
Giá tiêu hôm nay tiếp tục đi ngang
Thị trường giá tiêu hôm nay 13/9 không ghi nhận điều chỉnh mới tại các vùng trồng trọng điểm. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục dao động từ 137.000 - 141.000 đồng/kg, đánh dấu ngày thứ ba liên tiếp giữ ổn định sau đợt tăng mạnh trước đó.
Tại Đắk Nông (Lâm Đồng), giá tiêu tiếp tục đứng đầu với 141.000 đồng/kg. Đây cũng là địa phương duy nhất trong khảo sát có giá trên 140.000 đồng/kg.
Đắk Lắk đứng ngay sau với 140.000 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) được thu mua ở mức 137.500 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai cùng giữ mức 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.
Như vậy, sau khi tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg trong phiên trước, thị trường hồ tiêu trong nước đang bước vào trạng thái ổn định. Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 4.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu cũng không ghi nhận biến động đáng kể. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia hiện ở mức 6.936 USD/tấn, tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.750 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia được giao dịch ở mức 9.496 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt ở mức 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.
Trong khi thị trường trong nước vẫn duy trì mặt bằng giá cao, hoạt động xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia có dấu hiệu chững lại. Trong 7 tháng đầu năm, lượng tiêu xuất khẩu của nước này giảm 22,4%, xuống còn 17.430 tấn.
Giá cà phê hôm nay đồng loạt giảm 500 đồng/kg
Trái với hồ tiêu, giá cà phê hôm nay 13/9 tại các tỉnh Tây Nguyên đồng loạt giảm 500 đồng/kg so với phiên trước. Mặt bằng thu mua hiện dao động từ 94.700 - 95.300 đồng/kg.
Tại Đắk Nông, giá cà phê giảm 500 đồng/kg, xuống 95.300 đồng/kg, nhưng vẫn là mức cao nhất trong các địa phương được khảo sát.
Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức 95.200 đồng/kg, cũng giảm 500 đồng/kg.
Lâm Đồng tiếp tục có giá thấp nhất khu vực, ở mức 94.700 đồng/kg.
Sau thời gian duy trì mặt bằng trên 95.000 đồng/kg, giá cà phê tại một số địa phương đã lùi xuống dưới ngưỡng này. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện là 600 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá Robusta và Arabica cùng giảm trong phiên giao dịch gần nhất.
Tại sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 giảm 29 USD/tấn, tương đương 0,8%, xuống 3.525 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1/2027 giảm 2 USD/tấn, tương đương 0,06%, còn 3.508 USD/tấn.
Trên sàn New York, Arabica giao tháng 12/2026 giảm 2,45 US cent/pound, tương đương 0,85%, xuống 285,7 US cent/pound. Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 0,81%, còn 277,2 US cent/pound.
Theo Reuters, giá Arabica giảm khoảng 0,9% trong phiên cuối tuần và mất 3,3% trong cả tuần. Trong khi đó, Robusta giảm 0,8% trong phiên cuối tuần nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng khoảng 3%, nhờ các phiên tăng mạnh trước đó.
Diễn biến này cho thấy thị trường cà phê thế giới đang chịu tác động trái chiều từ tình hình nguồn cung tại các khu vực sản xuất lớn. Trong đó, nguồn cung từ Brazil tiếp tục là yếu tố tạo áp lực lên giá.
Giá lúa gạo hôm nay: Gạo nguyên liệu tăng nhẹ
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa gạo hôm nay 13/9 biến động nhẹ. Đáng chú ý, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg, trong khi giao dịch trên thị trường lúa vẫn khá chậm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 tăng 50 đồng/kg, lên 8.700 - 8.750 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu IR 504 dao động 8.650 - 8.700 đồng/kg; OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Ở nhóm phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.450 - 8.400 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm 3-4 ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ và lúa tươi ít biến động
Trên thị trường bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine dao động 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 15.000 đồng/kg.
Gạo Sóc thường ở mức 15.000 - 16.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Ở phân khúc nếp, thị trường tiếp tục đi ngang. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Đối với lúa tươi, OM 18 hiện ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg; IR 50404 ở mức 6.100 - 6.200 đồng/kg và OM 34 ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg.
Nguồn lúa Hè Thu hiện còn ít, trong khi nhu cầu mua mới chỉ ở mức lai rai nên giá nhìn chung vẫn vững. Tại An Giang, thương lái ít mua, giá lúa chững lại. Tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ và Vĩnh Long, hoạt động mua bán mới ít, khiến giá lúa tương đối ổn định.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 445 - 450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 367 - 371 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm dao động 478 - 482 USD/tấn, gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 370 - 374 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 306 - 310 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường nông sản hôm nay 13/9 tiếp tục phân hóa. Hồ tiêu duy trì mặt bằng giá cao nhưng chưa có thêm điều chỉnh; cà phê chịu áp lực giảm trở lại cả ở thị trường trong nước và quốc tế; trong khi lúa gạo chủ yếu biến động nhẹ, đáng chú ý là giá một số loại gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu tăng.
Diễn biến này cho thấy thị trường nông sản đang chịu tác động khác nhau tùy từng ngành hàng, trong đó cung - cầu, hoạt động xuất khẩu và diễn biến giá quốc tế tiếp tục là những yếu tố quan trọng quyết định mặt bằng giá trong thời gian tới.
