Nội dung này được quy định tại Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND vừa được HĐND thành phố ban hành. Chính sách được xây dựng theo hướng hỗ trợ đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học – công nghệ, xây dựng thương hiệu đến tiêu thụ sản phẩm, phát triển kinh tế trang trại và làng nghề.
Tăng hỗ trợ cho liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản
Một trong những điểm nhấn của nghị quyết là khuyến khích hình thành các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm rủi ro thị trường cho nông dân.
Đơn vị chủ trì liên kết được hỗ trợ tối đa 300 triệu đồng để xây dựng dự án hoặc kế hoạch liên kết và tối đa 200 triệu đồng cho đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực quản lý.
Đối với cây giống, con giống và vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất trong chuỗi, mức hỗ trợ có thể đạt 100% tại địa bàn khó khăn và tối đa 70% tại các khu vực còn lại. Tổng mức hỗ trợ cho một dự án chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản lên tới 1 tỷ đồng, trong khi các lĩnh vực khác được hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng.
Để khuyến khích mở rộng thị trường, thành phố hỗ trợ một lần bằng 5% tổng giá trị thanh lý hợp đồng tiêu thụ sản phẩm đầu tiên, nhưng không quá 500 triệu đồng cho mỗi dự án liên kết.
Nhà màng, tưới thông minh được hỗ trợ tới 700 triệu đồng
Song song với phát triển liên kết, cơ giới hóa và đổi mới công nghệ được xác định là giải pháp quan trọng để giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng suất lao động.
Theo nghị quyết, các tổ chức, cá nhân đầu tư máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ phục vụ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến, đóng gói và bảo quản nông sản được hỗ trợ tối đa 30% chi phí đầu tư, nhưng không quá 300 triệu đồng cho mỗi đối tượng.
Đối với nông nghiệp công nghệ cao, các hạng mục như nhà màng, nhà lưới, nhà kính, hệ thống tưới thông minh, cảm biến môi trường, phần mềm quản lý sản xuất, công nghệ nuôi cấy mô và hệ thống xử lý phân hữu cơ vi sinh được hỗ trợ 50% chi phí đầu tư, với mức tối đa 700 triệu đồng cho mỗi dự án.
Để được hưởng chính sách, dự án phải đáp ứng yêu cầu về quy mô sản xuất tập trung. Sản xuất ngoài trời phải có diện tích từ 1 ha liền vùng, liền thửa trở lên, trong khi sản xuất trong nhà lưới, nhà kính hoặc nhà màng phải đạt tối thiểu 500 m² đối với cá nhân và 2.000 m² đối với tổ chức.
Ngoài ra, dự án phải áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP hoặc tương đương và có liên kết tiêu thụ sản phẩm, nhằm bảo đảm đầu tư công nghệ gắn với chất lượng và thị trường đầu ra.

Ưu tiên phát triển nông nghiệp hữu cơ và kinh tế trang trại
Đà Nẵng cũng dành nguồn lực đáng kể cho nông nghiệp hữu cơ. Thành phố hỗ trợ toàn bộ kinh phí khảo sát, xác định vùng đủ điều kiện sản xuất hữu cơ với mức tối đa 5 triệu đồng/ha và không quá 100 triệu đồng cho một vùng. Chi phí chứng nhận sản phẩm hữu cơ được hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng cho mỗi đối tượng.
Đối với sản xuất trực tiếp, lúa hữu cơ được hỗ trợ tối đa 30 triệu đồng/ha/vụ, còn rau, củ, quả hữu cơ được hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng/ha và không quá ba vụ liên tiếp. Các dự án chăn nuôi hữu cơ được hỗ trợ tối đa 200 triệu đồng để mua con giống, thức ăn, thuốc thú y và chế phẩm sinh học đạt chuẩn.
Bên cạnh sản xuất tập trung, thành phố tiếp tục hỗ trợ kinh tế vườn và kinh tế trang trại thông qua đầu tư công trình cấp nước, hệ thống tưới tiết kiệm, cải tạo vườn và giống cây dài ngày. Riêng công trình cấp nước được hỗ trợ từ 35–50 triệu đồng.
Các trang trại được hỗ trợ tối đa 50% kinh phí để xây dựng hoặc cải tạo chuồng trại, ao nuôi, lồng nuôi thủy sản, nhà kính, nhà xưởng, cơ sở sơ chế, bảo quản và chế biến, với mức tối đa 300 triệu đồng, mỗi trang trại được hưởng một lần.
Hướng tới nông nghiệp xanh và chuỗi giá trị hiện đại
Nghị quyết số 17 cũng dành chính sách cho nghề truyền thống và làng nghề, bao gồm đào tạo, truyền nghề, xây dựng điểm trưng bày sản phẩm, phát triển sản phẩm du lịch và quảng bá thương hiệu. Mức hỗ trợ tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận và quảng bá là 50 triệu đồng đối với nghề truyền thống, 80 triệu đồng đối với làng nghề và 100 triệu đồng đối với làng nghề truyền thống.
Việc bố trí khoảng 150 tỷ đồng mỗi năm cho thấy Đà Nẵng đang chuyển mạnh từ hỗ trợ sản xuất đơn lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao. Chính sách mới không chỉ hướng tới tăng sản lượng mà còn tập trung nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng sản xuất hữu cơ, thúc đẩy cơ giới hóa và hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với tiêu chuẩn chất lượng và thị trường tiêu thụ ổn định.
Với hệ thống hỗ trợ trải rộng từ liên kết sản xuất, cơ giới hóa, nông nghiệp hữu cơ đến nhà màng, tưới thông minh và phát triển làng nghề, Đà Nẵng đang tạo thêm động lực để doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân đầu tư vào mô hình nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững hơn trong giai đoạn 2026–2030.
