Phát triển kinh tế tập thể: Nền tảng tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản

Kinh tế tập thể, với nòng cốt là hợp tác xã (HTX), đang giữ vai trò ngày càng quan trọng trong tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, tập hợp nông dân và kết nối sản xuất với thị trường. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển về số lượng mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực quản trị, mở rộng liên kết chuỗi, ứng dụng công nghệ và tạo thêm giá trị cho thành viên.
Phát triển kinh tế tập thể, nâng năng lực HTX, liên kết doanh nghiệp, ứng dụng công nghệ và xây dựng vùng nguyên liệu đang tạo nền tảng tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản và tăng thu nhập cho nông dân. Ảnh internet

Từ phát triển số lượng sang nâng chất lượng HTX

Năm 2025, cả nước có khoảng 23.000 hợp tác xã nông nghiệp và 101 liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp, trong đó khoảng 65% được đánh giá hoạt động khá, tốt. Quy mô này cho thấy kinh tế tập thể đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, tập hợp nông dân và kết nối sản xuất với thị trường.

Tuy nhiên, số lượng HTX và năng lực kinh tế vẫn chưa tương xứng. Phần lớn HTX có quy mô nhỏ, năng lực quản trị chưa đồng đều, vốn hạn chế và khó tiếp cận tín dụng, công nghệ cũng như thị trường. Không ít đơn vị mới chủ yếu cung cấp dịch vụ đầu vào, hỗ trợ sản xuất cho thành viên, chưa đủ khả năng tham gia sâu vào các khâu tạo giá trị cao như sơ chế, chế biến, logistics, thương mại và xuất khẩu.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới không chỉ là thành lập thêm HTX mà phải nâng cao năng lực để HTX thực sự trở thành tổ chức kinh tế có khả năng sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh.

Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 đã tạo khung định hướng cho quá trình này.

Trên cơ sở đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Quyết định số 3409/QĐ-BNNMT ngày 24/8/2026, cụ thể hóa các nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Trọng tâm là nâng cao chất lượng hoạt động, năng lực quản trị, khả năng tiếp cận nguồn lực và mức độ tham gia của HTX vào chuỗi giá trị.

Theo kế hoạch, đến năm 2030 phấn đấu trên 60% HTX hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% HTX nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm.

Những mục tiêu này cho thấy thước đo phát triển kinh tế tập thể đang chuyển dần từ số lượng sang hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị.

Liên kết chuỗi để mở rộng giá trị nông sản

Trong quá trình nâng cao năng lực HTX, liên kết với doanh nghiệp và xây dựng vùng nguyên liệu tập trung là những yếu tố quan trọng.

Khi có đầu ra ổn định, HTX có thể tổ chức sản xuất theo nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và tạo sản lượng đủ lớn. Qua đó, nông sản có điều kiện đi sâu hơn vào các khâu sơ chế, chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu.

Phát triển vùng nguyên liệu cũng giúp khắc phục tình trạng sản xuất manh mún. Trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, chất lượng và môi trường, HTX có thể tổ chức các hộ thành viên sản xuất theo quy trình thống nhất. Khi đó, quy mô sản xuất được chuyển hóa thành lợi thế thương mại, tạo điều kiện để HTX tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Vốn cũng là điều kiện quan trọng để HTX mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực kinh doanh. Giai đoạn 2019-2025, Quỹ Hỗ trợ phát triển hợp tác xã Việt Nam ký hợp đồng cho vay 391 dự án, kế hoạch sản xuất kinh doanh với tổng số tiền 2.116 tỷ đồng, giải ngân 2.094 tỷ đồng; dư nợ cuối năm 2025 đạt 943 tỷ đồng.

Nguồn vốn này góp phần hỗ trợ HTX đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tăng cường liên kết với doanh nghiệp.

Hiệu quả nguồn vốn được thể hiện qua kết quả kinh doanh khi doanh thu bình quân của HTX tăng 43,5%, lợi nhuận tăng 37,2%. Điều này cho thấy khi được tiếp cận nguồn vốn phù hợp, HTX có thể chuyển hóa nguồn lực tài chính thành năng lực sản xuất và giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, bài toán vốn không chỉ nằm ở việc tăng nguồn cho vay mà còn ở khả năng đưa vốn đến đúng những HTX có phương án kinh doanh khả thi, vùng nguyên liệu, thị trường và năng lực quản trị phù hợp.

Kinh tế tập thể đang trở thành nền tảng quan trọng để tổ chức lại sản xuất và nâng giá trị nông sản. Ảnh internet

Quản trị là yếu tố quyết định hiệu quả

Cùng với vốn, năng lực quản trị có ý nghĩa quyết định đối với khả năng tạo lợi nhuận và phát triển bền vững của HTX.

HTX hiện đại không chỉ cần người am hiểu sản xuất mà còn phải có năng lực quản trị tài chính, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu, đàm phán hợp đồng, marketing, thương mại điện tử và tổ chức chuỗi cung ứng.

Thực tế tại Thanh Hóa cho thấy, khi các tổ hợp tác (THT), HTX được hình thành trên cơ sở nhu cầu sản xuất và liên kết của người dân, mô hình kinh tế tập thể có thể trở thành cầu nối giúp nông dân tiếp cận vốn, kỹ thuật và thị trường.

Tại xã Điền Lư, người dân đã chuyển đổi một phần diện tích cây trồng kém hiệu quả sang cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Hiện địa phương có khoảng 25ha cam V2, cam Canh, cam Cao Phong, cho thu nhập từ 300-350 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên, sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết khiến việc tiêu thụ sản phẩm gặp không ít khó khăn. Trước thực tế đó, Hội Nông dân xã Điền Lư đã tuyên truyền, vận động hội viên tham gia phát triển kinh tế tập thể.

Đầu năm 2026, Hội vận động 7 hộ trồng cam liên kết thành THT, sản xuất theo quy trình VietGAP. Các hộ được hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc và sử dụng vật tư an toàn, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm.

Từ những mô hình bước đầu hiệu quả, Hội Nông dân xã tiếp tục vận động, hướng dẫn thành lập thêm 2 chi hội nghề nghiệp và 1 HTX hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Thông qua các mô hình liên kết, hội viên được hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật; đồng thời có điều kiện chia sẻ kinh nghiệm, tổ chức sản xuất và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm.

Ông Lê Quang Huy, Bí thư Đảng ủy xã Điền Lư, cho biết thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục chỉ đạo Hội Nông dân xã tuyên truyền, vận động các hộ dân thành lập HTX, THT để tạo liên kết trong bao tiêu sản phẩm và mở rộng quy mô. Các mô hình cũng là nơi để hội viên trao đổi kinh nghiệm, ứng dụng khoa học - kỹ thuật và chuyển đổi số.

Tại HTX Nông nghiệp Hồng Ân, xã Xuân Tín, mô hình kinh tế tập thể được hình thành trên cơ sở tổ hội chăn nuôi gà đồi an toàn sinh học. Năm 2024, ông Đỗ Anh Quân thành lập HTX với 9 thành viên.

Hiện HTX đầu tư 6 trang trại chăn nuôi gà đồi thương phẩm và gà choai bán giống theo hình thức bán chăn thả tự nhiên. HTX tự sản xuất thức ăn chăn nuôi sinh học, vừa bảo đảm chất lượng, vừa giảm chi phí đầu vào.

Mỗi năm, HTX xuất bán khoảng 180.000 con gà giống, tương đương 252 tấn. Đối với gà thương phẩm, HTX nuôi 2 lứa/năm với tổng sản lượng trên 40 tấn. Doanh thu bình quân đạt hơn 14 tỷ đồng/năm, lợi nhuận gần 2 tỷ đồng.

Không chỉ tạo thu nhập cho thành viên, HTX còn chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi, cung ứng con giống cho nhiều hộ dân trên địa bàn, góp phần phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp.

Quảng cáo
Mô hình Tổ hợp tác sản xuất cam theo quy trình VietGAP tại xã Điền Lư, Thanh Hóa. Ảnh internet

Kinh tế tập thể tạo thêm nguồn lực cho nông dân

Để thúc đẩy kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác ở khu vực nông thôn, các cấp Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa đã tư vấn, hỗ trợ, đồng hành cùng các THT, HTX; hướng dẫn hội viên phát triển sản xuất, kinh doanh, thành lập THT, HTX, doanh nghiệp do nông dân làm chủ và tổ chức liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, các cấp Hội đã vận động, hướng dẫn thành lập mới 22 THT, 18 HTX và 27 doanh nghiệp do nông dân làm chủ.

Nguồn vốn cũng được xác định là một trong những yếu tố quan trọng. Các cấp Hội đã tín chấp với các ngân hàng, hỗ trợ nông dân vay hơn 16,7 tỷ đồng để phát triển sản xuất, kinh doanh; xây dựng và quản lý Quỹ Hỗ trợ nông dân với nguồn vốn 58,1 tỷ đồng, hỗ trợ 860 hộ tham gia 298 dự án.

Từ đầu năm đến nay, Quỹ đã giải ngân 8,1 tỷ đồng cho 16 dự án, với 89 hộ vay vốn. Các dự án vay vốn chủ yếu được triển khai theo mô hình THT, nhóm hộ liên kết, chi, tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.

Thời gian tới, Hội Nông dân tỉnh tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng các mô hình kinh tế tập thể hiệu quả; hỗ trợ HTX tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương.

Từ liên kết sản xuất đến nâng giá trị nông sản

Một mô hình tại phường Lý Văn Lâm, Cà Mau, cho thấy vai trò của HTX còn gắn với việc khai thác lợi thế đặc thù của địa phương. HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn hiện tổ chức sản xuất trên diện tích 182ha, với 7 thành viên chính thức và 94 thành viên liên kết, duy trì khoảng 300 tấn gạo sạch mỗi năm theo tiêu chuẩn VietGAP.

Tận dụng mô hình lúa - tôm, HTX tổ chức các hộ sản xuất theo quy trình đồng bộ, hướng tới an toàn, nâng chất lượng và chủ động hơn trong tiêu thụ. Quy mô liên kết cho thấy HTX có thể thực hiện những công việc mà từng hộ khó triển khai riêng lẻ như thống nhất quy trình, tập hợp sản lượng, kiểm soát chất lượng và tạo nền tảng làm việc với đối tác tiêu thụ.

Ông Nguyễn Văn Tiếp, Giám đốc HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn, cho rằng mục tiêu của HTX không chỉ là nâng năng suất mà còn thay đổi phương thức sản xuất của thành viên, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết, ứng dụng kỹ thuật để giảm chi phí và nâng hiệu quả.

Từ thực tế này có thể thấy, muốn nâng giá trị sản xuất trước hết phải thay đổi phương thức tổ chức sản xuất. Máy móc, giống mới hay quy trình kỹ thuật chỉ phát huy đầy đủ hiệu quả khi được đặt trong một hệ thống có quy mô, quản trị và thị trường.

Trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp có lợi thế về thị trường, công nghệ, vốn và phát triển sản phẩm; nông dân có đất đai, lao động và kinh nghiệm; còn HTX có vai trò tổ chức, tập hợp và điều phối các hộ thành vùng nguyên liệu có quy mô.

Khi các chủ thể liên kết bằng hợp đồng và cùng tuân thủ tiêu chuẩn, chuỗi sản xuất có điều kiện hạn chế những khoảng trống khiến nông sản mất giá trị giữa đồng ruộng và thị trường.

Từ góc độ kinh tế, HTX có thể tạo giá trị cho thành viên qua nhiều khâu: giảm chi phí thông qua mua chung vật tư và tổ chức dịch vụ; giảm rủi ro thị trường nhờ liên kết tiêu thụ; nâng chất lượng và giá bán thông qua tiêu chuẩn hóa sản phẩm; đồng thời tạo điều kiện xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Khi các khâu sản xuất được kết nối, lợi ích của thành viên và người lao động không chỉ đến từ năng suất trên diện tích mà còn từ khả năng giảm chi phí, ổn định đầu ra và nâng giá trị sản phẩm.

HTX Dịch vụ Nông nghiệp và Thủy sản Ông Muộn liên kết sản xuất lúa theo hướng nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Ảnh internet

Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh mở rộng dư địa phát triển

Trong giai đoạn mới, yêu cầu đối với HTX không dừng ở tổ chức sản xuất mà còn mở rộng sang quản trị bằng dữ liệu, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.

Theo kế hoạch của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chương trình đào tạo, học liệu và nền tảng đào tạo số về quản trị HTX, liên kết chuỗi giá trị, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh được xác định là một trong những hướng đi.

Chuyển đổi số có thể giúp HTX nâng hiệu quả kinh doanh thông qua số hóa dữ liệu về vùng nguyên liệu, sản lượng, mùa vụ, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Dữ liệu cũng hỗ trợ quản lý thành viên, điều hành sản xuất, kết nối cung cầu và mở rộng kênh tiêu thụ.

Cùng với đó, chuyển đổi xanh ngày càng trở thành yêu cầu đối với những thị trường có giá trị cao. Sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, phát triển kinh tế tuần hoàn và kiểm soát nguồn nguyên liệu là những yếu tố có thể giúp HTX nâng sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các chuỗi cung ứng.

Một hướng đi khác là phát triển HTX đa hoạt động, đa dịch vụ, gắn với ngành hàng chủ lực, vùng nguyên liệu, sản phẩm OCOP, du lịch nông thôn và dịch vụ nông nghiệp.

Khi tham gia từ cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến đến logistics và thương mại, HTX có điều kiện giữ lại nhiều giá trị hơn trong chuỗi, đồng thời tăng doanh thu và lợi ích cho thành viên.

Phân bổ nguồn lực theo năng lực và nhu cầu thực tế

Để chính sách hỗ trợ phát huy hiệu quả, cần xây dựng cơ sở dữ liệu và bộ chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh của HTX. Khi có dữ liệu về năng lực, quy mô, ngành hàng, vốn, thị trường và mức độ liên kết, nguồn lực có thể được phân bổ sát hơn với nhu cầu thực tế.

Những HTX có phương án kinh doanh tốt có thể được ưu tiên mở rộng; các đơn vị còn khó khăn được hỗ trợ củng cố quản trị, nhân lực và phương án sản xuất.

Bên cạnh nguồn lực Nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và tổ chức khoa học công nghệ cũng có ý nghĩa quan trọng. Trong đó, Nhà nước hoàn thiện thể chế và tạo môi trường; doanh nghiệp cung cấp thị trường, công nghệ và tham gia chuỗi giá trị; HTX tổ chức sản xuất, tập hợp nông dân và bảo đảm nguồn cung.

Sự phối hợp giữa các chủ thể sẽ giúp HTX phát huy tốt hơn vai trò cầu nối giữa nông dân và thị trường.

Từ hơn 23.000 HTX nông nghiệp hiện nay, mục tiêu giai đoạn 2026-2030 không chỉ là tăng số lượng mà hướng tới hình thành những tổ chức kinh tế có khả năng mở rộng sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu, tiếp cận vốn, ứng dụng công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Khi vốn, vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi, quản trị, công nghệ, chuyển đổi số và đào tạo được triển khai đồng bộ, kinh tế tập thể có điều kiện tạo động lực tổ chức lại sản xuất, nâng giá trị nông sản và tăng thu nhập cho thành viên.

Đến năm 2030, mục tiêu phấn đấu trên 60% HTX hoạt động khá, tốt; ít nhất 50% HTX nông nghiệp có liên kết với doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế khác và ít nhất 50% ứng dụng giải pháp số trong quản trị, sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm cho thấy định hướng phát triển đang chuyển từ chú trọng số lượng sang nâng cao hiệu quả kinh tế, mức độ liên kết và khả năng tạo giá trị.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm