1.600 cơ sở đứng trước cơ hội đổi mới công nghệ
Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2026–2030 được phê duyệt tại Quyết định số 2646/QĐ-BCT ngày 23/9/2025 của Bộ Công Thương, đặt trọng tâm vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp nông thôn.
Một trong những chỉ tiêu đáng chú ý của chương trình là hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến và công nghệ hiện đại cho 1.600 cơ sở công nghiệp nông thôn trong giai đoạn 2026–2030. Bên cạnh đó là mục tiêu xây dựng 100 mô hình trình diễn kỹ thuật, 100 mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn và hỗ trợ 100 cơ sở đầu tư công nghệ, thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường.
Chương trình cũng đặt mục tiêu hỗ trợ 120 cơ sở đăng ký nhãn hiệu sản phẩm; tổ chức 2 kỳ bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp quốc gia; hỗ trợ xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế. Điều này cho thấy phạm vi của khuyến công không chỉ dừng ở việc hỗ trợ một chiếc máy mới, mà hướng tới cả quá trình nâng cấp năng lực sản xuất, sản phẩm và thị trường.
Đối tượng thụ hưởng khá rộng, gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh và các cơ sở trực tiếp sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại khu vực thuộc phạm vi chương trình. Tuy nhiên, hỗ trợ được thực hiện thông qua các chương trình, đề án, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chứ không phải cơ chế hỗ trợ tự động cho mọi cơ sở.
Điểm đáng chú ý vì thế nằm ở cách doanh nghiệp biến nguồn hỗ trợ thành năng lực thực tế. Một khoản kinh phí chỉ tạo ra giá trị lâu dài khi được chuyển thành máy móc, công nghệ, quy trình, sản phẩm hoặc thị trường tốt hơn.
Hai doanh nghiệp năm 2026 cho thấy “vốn mồi” có thể đi vào máy móc
Thực tế triển khai trong năm 2026 đang cho thấy khá rõ cách nguồn vốn khuyến công được đưa vào những hạng mục cụ thể.
Tại Đắk Lắk, Công ty TNHH K7 COFFEE thực hiện dự án đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất với tổng kinh phí hơn 302,4 triệu đồng. Trong đó, kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 150 triệu đồng, phần còn lại do doanh nghiệp đối ứng.
Các thiết bị được đầu tư gồm một máy tách màu dùng cho gạo, ngũ cốc model 6SXZ-68 và một máy nén khí piston không dầu model MB-1500W-3/200L, đều là thiết bị mới 100%. Đề án được nghiệm thu ngày 12/8/2026 sau khi thiết bị được lắp đặt, vận hành và chạy thử đạt yêu cầu.
Một trường hợp khác là Công ty TNHH Mắc ca An Nhi Đắk Lắk với dự án có tổng kinh phí hơn 557,38 triệu đồng, trong đó kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 270 triệu đồng. Doanh nghiệp đầu tư một máy sấy công suất 6–7 tấn/mẻ và một máy tách hạt công suất 70–80 kg/giờ, đều là thiết bị mới 100%. Đề án được nghiệm thu ngày 10/9/2026.
Hai trường hợp trên cho thấy một đặc điểm đáng chú ý của khuyến công: ngân sách nhà nước không thay thế vốn đầu tư của doanh nghiệp mà cùng doanh nghiệp tạo ra một dự án có quy mô lớn hơn phần kinh phí hỗ trợ. Với cách tiếp cận này, nguồn hỗ trợ có thể đóng vai trò như “vốn mồi”, giúp cơ sở sản xuất mạnh dạn đưa thiết bị mới vào những khâu đang là điểm nghẽn.
Cách làm này cũng đang được cụ thể hóa ở nhiều địa phương. Theo số liệu được công bố, năm 2026 khu vực 11 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên được phê duyệt tổng kinh phí khuyến công hơn 54,672 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với năm 2025. Trong đó, kinh phí khuyến công địa phương hơn 38,222 tỷ đồng và kinh phí khuyến công quốc gia hơn 16,45 tỷ đồng.
Tại Đà Nẵng, nguồn kinh phí khuyến công địa phương năm 2026 được bố trí 10,8 tỷ đồng, dự kiến hỗ trợ 29 dự án ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, 3 mô hình đánh giá sản xuất sạch hơn và 5 dự án xây dựng thương hiệu, bao bì sản phẩm. Những con số này cho thấy khi chương trình quốc gia được cụ thể hóa ở địa phương, nguồn lực có thể được phân bổ vào khá nhiều khâu khác nhau của quá trình nâng cấp sản xuất.
Từ máy móc đến thương hiệu, thị trường và sản xuất xanh
Nếu giai đoạn trước, hình ảnh dễ thấy của khuyến công là hỗ trợ máy móc cho cơ sở sản xuất, thì chương trình 2026–2030 đang mở rộng bài toán sang năng lực cạnh tranh dài hạn.
Một cơ sở có thể bắt đầu bằng máy móc hiện đại để tăng năng suất, nhưng để tạo ra giá trị cao hơn, doanh nghiệp còn phải giải quyết chất lượng, tiêu chuẩn, thương hiệu, bao bì, thị trường và khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của chuỗi cung ứng.
Đó cũng là lý do chương trình dành các chỉ tiêu riêng cho sản xuất sạch hơn, xử lý môi trường, đăng ký nhãn hiệu và xúc tiến thương mại. Với doanh nghiệp nông thôn, đây là những phần việc thường đòi hỏi nguồn lực mà cơ sở nhỏ khó tự triển khai đồng bộ.
Đặc biệt, định hướng sản xuất sạch hơn và chuyển đổi xanh có thể tạo ra một thay đổi quan trọng trong cách nhìn về đầu tư. Xử lý chất thải, tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu hiệu quả hay giảm tiêu hao trong sản xuất không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn liên quan trực tiếp đến chi phí và khả năng tham gia những thị trường có tiêu chuẩn cao.
Với mục tiêu hỗ trợ 1.600 cơ sở ứng dụng máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại trong 5 năm, quy mô chương trình đặt ra một bài toán không nhỏ cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp: làm thế nào để mỗi dự án sau hỗ trợ tạo ra năng lực sản xuất thực sự, thay vì chỉ dừng ở việc mua thêm một thiết bị.
Ở góc độ doanh nghiệp, điều đó đòi hỏi lựa chọn đúng điểm nghẽn để đầu tư, có vốn đối ứng và chuẩn bị phương án vận hành sau khi nhận hỗ trợ. Ở góc độ địa phương, hiệu quả của khuyến công sẽ ngày càng được nhìn qua những kết quả cụ thể hơn như năng suất, chất lượng sản phẩm, mức độ tiết kiệm nguyên liệu - năng lượng, khả năng mở rộng thị trường và sức cạnh tranh của cơ sở.
Khuyến công 2026–2030 vì vậy không chỉ là câu chuyện “được hỗ trợ bao nhiêu”, mà quan trọng hơn là nguồn lực đó giúp một cơ sở sản xuất thay đổi được điều gì. Khi khoản hỗ trợ được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm, thương hiệu và năng lực thị trường, tác động của chính sách sẽ có cơ hội lan rộng hơn trong khu vực công nghiệp nông thôn.
