Từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất thứ thị trường cần”
Điểm thay đổi trước hết nằm ở tư duy phát triển. Thay vì tập trung vào sản lượng, Ninh Bình hướng tới nâng chất lượng tăng trưởng, chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất thứ thị trường cần”.
Theo đó, cây lúa, rau màu, vật nuôi, thủy sản hay tài nguyên rừng đều phải được đặt trong chuỗi giá trị, gắn với khoa học công nghệ, chế biến, thương mại và thị trường.
Theo Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2026-2030, tỉnh định hướng chuyển dịch cơ cấu nội ngành theo hướng tăng tỷ trọng nông nghiệp công nghệ cao, nâng giá trị gia tăng; phục hồi lâm nghiệp sinh thái, sử dụng hiệu quả đất, nước và tài nguyên rừng.
Đến năm 2030, nông nghiệp dự kiến chiếm khoảng 72-75%, thủy sản 23-24% và lâm nghiệp khoảng 0,5% trong cơ cấu nội ngành.
Đằng sau những con số này là mục tiêu quan trọng hơn: nâng chất lượng tăng trưởng. Giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản phấn đấu đạt từ 220 triệu đồng/ha; tỷ lệ sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất thông qua hợp tác, liên kết đạt 30-40%.
Từ từng thửa ruộng đến chuỗi giá trị có sức cạnh tranh
Trong trồng trọt, cơ cấu lại trước hết là cơ cấu lại cách sử dụng đất.
Ninh Bình không đặt mục tiêu mở rộng diện tích lúa bằng mọi giá mà hướng tới khai thác hiệu quả từng vùng đất. Những diện tích sản xuất kém hiệu quả có thể được chuyển sang rau màu, cây vụ đông, cây đặc sản hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản, phù hợp với điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường.
Mục tiêu duy trì sản lượng cây lương thực có hạt trên 1,1 triệu tấn/năm được đặt song hành với việc hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ.
Những cây trồng chủ lực, đặc sản, có lợi thế cạnh tranh và khả năng tạo giá trị gia tăng cao sẽ được lựa chọn phù hợp với từng vùng.
Như vậy, một thửa ruộng sau cơ cấu lại không chỉ được đo bằng số tấn lúa thu hoạch mà còn bằng giá trị tạo ra trên diện tích đất, lượng vật tư được tiết giảm, mức độ giảm phát thải, chất lượng nông sản và khả năng tham gia vào chuỗi tiêu thụ.
Muốn hiện thực hóa định hướng này, tổ chức lại sản xuất là khâu then chốt. Các vùng nguyên liệu cần được quy hoạch dựa trên lợi thế và nhu cầu thị trường; hợp tác xã được củng cố để trở thành đầu mối tập hợp nông dân, tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào tiêu chuẩn hóa, chế biến và tiêu thụ.
Đây chính là bước chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, trong đó nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tiêu thụ trở thành căn cứ để tổ chức sản xuất.
Chăn nuôi chuyển từ tăng đàn sang nâng chất lượng
Yêu cầu nâng giá trị không chỉ đặt ra với cây trồng mà còn được mở rộng sang lĩnh vực chăn nuôi.
Thay vì phát triển đàn vật nuôi theo chiều rộng, ngành chăn nuôi được định hướng tập trung vào những vật nuôi có lợi thế, tạo ra sản phẩm chất lượng và mang đặc trưng địa phương.
Đàn dê được phát triển theo hướng chuyên thịt, đồng thời bảo tồn dê cỏ địa phương để hình thành sản phẩm đặc trưng phục vụ thị trường và du lịch ẩm thực.
Một số giống lợn địa phương như lợn Mường, lợn mán, lợn Táp ná được định hướng phát triển theo phương thức hữu cơ, tuần hoàn, kiểm soát dịch bệnh, qua đó tạo ra sản phẩm có chất lượng và giá trị cao hơn.
Bài toán chăn nuôi vì thế không còn đơn thuần là “nuôi con gì, bao nhiêu con”, mà phải trả lời được câu hỏi “tạo sản phẩm gì, bán cho ai và giữ lại bao nhiêu giá trị ở nông thôn”.
Để làm được điều đó, chuỗi sản xuất phải được tổ chức đồng bộ từ giống, thức ăn, quy trình chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh đến giết mổ, chế biến, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ.
Thủy sản mở rộng không gian kinh tế từ mặt nước
Từ đất sang nước, thủy sản tiếp tục được xác định là một dư địa quan trọng để gia tăng giá trị.
Những đối tượng có giá trị kinh tế cao như cá song, cá bống bớp, ốc hương, sò huyết... được định hướng phát triển phù hợp với điều kiện sinh thái và nhu cầu thị trường.
Trọng tâm là tổ chức lại vùng nuôi theo hướng tập trung, kiểm soát môi trường, nâng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tăng tỷ lệ sản phẩm qua chế biến.
Với lợi thế ven biển, thủy sản không chỉ đóng góp vào giá trị sản xuất mà còn mở rộng không gian cho kinh tế biển, dịch vụ hậu cần, chế biến và thương mại.
Trong khi đó, lâm nghiệp cũng được định hướng thay đổi theo hướng nâng cao giá trị và bảo vệ hệ sinh thái. Lâm nghiệp không chỉ dừng ở khai thác tài nguyên mà chuyển mạnh sang phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, nâng giá trị rừng và khai thác hợp lý các giá trị từ cảnh quan, sinh thái, du lịch.
Tổ chức lại không gian sản xuất theo lợi thế từng vùng
Ninh Bình định hướng tổ chức lại bốn không gian sản xuất gồm đồng bằng, trung du, vùng rừng và du lịch sinh thái, vùng ven biển theo lợi thế riêng.
Từ đó hình thành các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyên canh quy mô lớn và vùng ứng dụng công nghệ cao.
Cách tổ chức này không chỉ hạn chế tình trạng sản xuất dàn trải mà còn tạo điều kiện tập trung đầu tư hạ tầng, đẩy mạnh cơ giới hóa, chuyển giao công nghệ và thu hút doanh nghiệp vào những vùng có khả năng hình thành chuỗi giá trị rõ ràng.
Gỡ điểm nghẽn để giá trị ở lại nông thôn
Nếu lựa chọn đúng sản phẩm là bước khởi đầu, thì tổ chức sản xuất, công nghệ và thị trường sẽ quyết định quá trình cơ cấu lại có đi vào thực chất hay không.
Trước hết, kinh tế tập thể cần được nâng cao vai trò. Hợp tác xã phải thực sự trở thành đầu mối tập hợp nông dân, tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình và kết nối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào tiêu chuẩn hóa, chế biến và tiêu thụ.
Đến năm 2030, Ninh Bình đặt mục tiêu có 65-70% hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả, số lượng hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại tăng bình quân từ 1,2% trở lên.
Cùng với tổ chức sản xuất, những điểm nghẽn về vốn, đất đai và chính sách cũng cần được tháo gỡ. Chính sách tín dụng cần phù hợp hơn với chu kỳ sản xuất nông nghiệp; đồng thời nghiên cứu các giải pháp bảo hiểm nông nghiệp, thu hút đầu tư vào chế biến, bảo quản và phát triển nguồn nhân lực.
Khoa học công nghệ phải trở thành công cụ trực tiếp để nâng năng suất, chất lượng và giảm chi phí, thay vì chỉ dừng ở các mô hình trình diễn.
Trọng tâm là ứng dụng giống mới, công nghệ tưới, tự động hóa, công nghệ sinh học, quản lý dịch bệnh, số hóa vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc và quản lý dữ liệu.
Cơ giới hóa cũng cần được triển khai đồng bộ hơn, không chỉ ở khâu làm đất hay thu hoạch mà từng bước mở rộng sang gieo trồng, chăm sóc, sơ chế, bảo quản và chế biến.
Việc hỗ trợ máy móc, thiết bị và phát triển dịch vụ cơ khí nông nghiệp tại địa phương sẽ góp phần giảm chi phí, nâng năng suất lao động và thúc đẩy hiện đại hóa sản xuất.
Chế biến, bảo quản phải trở thành “khâu giữ giá trị”
Một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình cơ cấu lại là hạn chế tình trạng sản phẩm được tạo ra nhưng giá trị lại không được giữ lại ở khu vực nông thôn.
Do đó, chế biến và bảo quản cần được coi là “khâu giữ giá trị”. Đầu tư kho lạnh, logistics, chuỗi cung ứng lạnh và công nghệ bảo quản sau thu hoạch sẽ giúp giảm thất thoát, kéo dài thời gian lưu trữ và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Từ đó, sản phẩm nông nghiệp không còn phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán ngay sau thu hoạch mà có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi chế biến và phân phối.
Thị trường cũng phải được đặt trước sản xuất. Xúc tiến thương mại cần vượt khỏi việc đơn thuần giới thiệu sản phẩm để hướng tới kết nối cung - cầu, tìm kiếm nhà phân phối, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến.
Cùng với thương mại truyền thống, thương mại điện tử, thanh toán số và hợp đồng điện tử cần được mở rộng, giúp hợp tác xã và hộ sản xuất tiếp cận trực tiếp hơn với người tiêu dùng và thị trường.
OCOP không chạy theo số lượng, tập trung vào chất lượng
Với chương trình OCOP, yêu cầu đặt ra cũng không phải chạy theo số lượng sao mà tập trung nâng chất lượng thực chất, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Đến năm 2030, Ninh Bình phấn đấu có thêm 200 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó ít nhất 4 sản phẩm đạt 5 sao.
Mục tiêu này cho thấy hướng đi của OCOP gắn ngày càng chặt với nâng giá trị sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, thay vì chỉ gia tăng số lượng sản phẩm được công nhận.
Hướng tới nền nông nghiệp xanh, sinh thái và đa giá trị
Một hướng đi xuyên suốt trong cơ cấu lại nông nghiệp Ninh Bình là tăng trưởng xanh.
Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải cần được mở rộng từ những mô hình thí điểm thành phương thức sản xuất phù hợp với từng vùng.
Ninh Bình đặt mục tiêu triển khai các mô hình trồng trọt giảm phát thải có khả năng nhân rộng, đồng thời thí điểm ít nhất 1-2 mô hình có khả năng phát triển tín chỉ carbon.
Đi cùng công nghệ và phương thức sản xuất mới là yêu cầu hình thành lực lượng “nông dân số”, có khả năng tiếp cận công nghệ, dữ liệu và thị trường. Đây sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng thích ứng của kinh tế nông thôn trong giai đoạn mới.
Cơ cấu lại nông nghiệp cũng không thể tách rời đầu tư hạ tầng. Thủy lợi, giao thông nội đồng, vùng nuôi, kho bảo quản, cơ sở sơ chế, hạ tầng số và công trình phòng chống thiên tai cần được ưu tiên cho những vùng có khả năng hình thành chuỗi giá trị.
Trong đó, nguồn lực nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, đồng thời huy động doanh nghiệp, hợp tác xã và các thành phần kinh tế cùng tham gia.
Không chỉ tăng sản lượng, mà phải tăng giá trị cho nông thôn
Đích đến của quá trình cơ cấu lại không chỉ là một nền nông nghiệp có năng suất cao hơn mà là một nền kinh tế nông thôn có sức tạo việc làm, tăng thu nhập và giữ lại nhiều hơn giá trị từ sản phẩm.
Bởi vậy, cơ cấu lại nông nghiệp phải song hành với xây dựng nông thôn mới, phát triển ngành nghề, dịch vụ, du lịch và bảo tồn các giá trị văn hóa, cảnh quan.
Đến năm 2030, Ninh Bình phấn đấu có ít nhất 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 12% đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều dưới 1%. Nông thôn được định hướng phát triển xanh, tuần hoàn, sinh thái, hiện đại, tích hợp đa giá trị và kết nối hiệu quả với đô thị.
Từ một thửa ruộng, trang trại, ao nuôi hay cánh rừng, giá trị vì thế không dừng lại ở sản phẩm đầu tiên. Giá trị cần được nối dài qua chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch và các ngành nghề nông thôn.
Đó cũng là thước đo thực chất của quá trình cơ cấu lại: không phải sản xuất được bao nhiêu, mà tạo ra bao nhiêu giá trị; không chỉ tăng trưởng nông nghiệp, mà phải làm cho kinh tế nông thôn mạnh hơn, người dân có thu nhập tốt hơn và nguồn lực đất, nước, rừng được sử dụng hiệu quả, bền vững hơn.
