Vùng nguyên liệu tốt trở thành lợi thế cạnh tranh
Một vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản không chỉ tạo đầu ra cho nông dân mà còn trở thành nền tảng để doanh nghiệp chủ động sản xuất, chế biến và phát triển thị trường. Khi yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn sản phẩm ngày càng cao, doanh nghiệp có vùng nguyên liệu ổn định sẽ có thêm lợi thế trong việc kiểm soát đầu vào.
Theo thông tin được Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn công bố, đến cuối năm 2025, sau hơn 4 năm triển khai Đề án thí điểm xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vụ chế biến và tiêu thụ giai đoạn 2022-2025, tổng diện tích vùng nguyên liệu đạt khoảng 169.800 ha, tăng 33.800 ha, tương đương 20% so với trước khi thực hiện Đề án. Trong đó, diện tích có liên kết tiêu thụ với doanh nghiệp đạt gần 121.000 ha, chiếm 71,2% tổng diện tích.
Các địa phương cũng hình thành hơn 90 chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, trong khi số doanh nghiệp, nhà máy thu mua, chế biến tham gia tăng từ 11 lên 27 đơn vị.
Những con số này cho thấy vùng nguyên liệu đang chuyển dần từ sản xuất phân tán sang tổ chức theo chuỗi. Trong mô hình đó, Nhà nước tập trung hỗ trợ hạ tầng và tổ chức sản xuất, hợp tác xã điều phối vùng nguyên liệu, còn doanh nghiệp đóng vai trò kết nối thị trường, chế biến và tiêu thụ. Đây cũng là cách để một vùng sản xuất có thể tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh thay vì chỉ phụ thuộc vào một đầu ra duy nhất.
Không chỉ mua nguyên liệu, doanh nghiệp phải tạo ra giá trị
Trong ngành khoai tây, Công ty TNHH Thực phẩm PepsiCo Việt Nam (PepsiCo) là một ví dụ về cách doanh nghiệp tổ chức vùng nguyên liệu gắn với yêu cầu chế biến. Mô hình phát triển vùng nguyên liệu khoai tây của PepsiCo được triển khai tại Lâm Đồng từ năm 2008, ban đầu với 4 hộ nông dân trên diện tích 27 ha. Đến năm 2024, mô hình đã mở rộng lên hơn 1.500 hộ với tổng diện tích gần 1.700 ha, năng suất trung bình đạt khoảng 24,6 tấn/ha.
Từ năm 2019, PepsiCo phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Syngenta và các đối tác triển khai mô hình sản xuất khoai tây bền vững, ứng dụng công nghệ tại Tây Nguyên. Đến vụ đông xuân 2024-2025, mô hình được mở rộng ra các tỉnh phía Bắc. Quy trình liên kết bao gồm nhiều khâu từ giống, kỹ thuật canh tác, quản lý sâu bệnh, tưới tiêu đến ứng dụng công nghệ và kết nối tiêu thụ. Cách tổ chức này cho thấy doanh nghiệp không chỉ tham gia ở khâu thu mua mà còn tham gia vào quá trình hình thành và quản lý vùng nguyên liệu phù hợp với yêu cầu sản xuất, chế biến.
Tại Quảng Ngãi, Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Sao Mai lại lựa chọn hướng kết hợp vùng nguyên liệu với năng lực chế biến. Doanh nghiệp đang phát triển vùng nguyên liệu khoảng 2.000 ha, tập trung vào chanh dây, dứa, xoài và ổi. Song song với đó, Nhà máy Chế biến Nông sản và Dược liệu Sao Mai được đầu tư trên diện tích hơn 50.000 m², tổng vốn 500 tỷ đồng, công suất thiết kế 10.000 tấn sản phẩm trái cây chế biến mỗi năm.
Điểm đáng chú ý ở mô hình này là doanh nghiệp không chỉ đặt vấn đề về lượng nguyên liệu cần mua, mà còn tổ chức liên kết từ giống, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn canh tác đến bao tiêu sản phẩm. Cách tiếp cận đó giúp vùng nguyên liệu có đầu ra rõ hơn, đồng thời tạo điều kiện để nguyên liệu tiếp tục được nâng giá trị thông qua chế biến thay vì chỉ tiêu thụ ở dạng tươi.
Ai giữ được lợi thế dài hạn?
Sự tham gia ngày càng nhiều của doanh nghiệp vào vùng nguyên liệu tạo thêm cơ hội cho người sản xuất, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng và tính ổn định của chuỗi. Doanh nghiệp muốn có lợi thế lâu dài không thể chỉ dựa vào khả năng mua nguyên liệu trong từng vụ, mà cần xây dựng quan hệ đủ bền để người dân yên tâm đầu tư sản xuất theo tiêu chuẩn.
Kết quả Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 cho thấy doanh nghiệp là đối tác liên kết chủ yếu của các trang trại đã tham gia liên kết. Cả nước có 4.392 trang trại liên kết trong sản xuất, trong đó 3.302 trang trại liên kết với doanh nghiệp, chiếm khoảng 76,28%. Ở khâu tiêu thụ, có 6.232 trang trại có liên kết và 4.028 trang trại lựa chọn doanh nghiệp làm đối tác.
Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc đưa nông sản từ vùng sản xuất vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, lợi thế không nhất thiết thuộc về doanh nghiệp có quy mô thu mua lớn nhất. Về dài hạn, bên có khả năng đưa ra yêu cầu rõ ràng, hỗ trợ sản xuất, kiểm soát chất lượng, đầu tư chế biến và mở rộng thị trường sẽ có nhiều cơ hội xây dựng vùng nguyên liệu ổn định hơn.
Với hợp tác xã, lợi thế nằm ở khả năng tập hợp nông dân, điều phối sản xuất và kiểm soát chất lượng. Với người sản xuất, nhiều doanh nghiệp cùng quan tâm đến nguyên liệu có thể mở thêm cơ hội đầu ra, nhưng để tận dụng được cơ hội đó, vùng sản xuất phải duy trì chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao.
Vì vậy, câu chuyện “ai giữ được lợi thế” không nên được hiểu đơn thuần là doanh nghiệp nào mua được nhiều nguyên liệu hơn. Lợi thế bền vững thuộc về những chuỗi liên kết tạo được giá trị cho cả ba phía: doanh nghiệp có nguyên liệu ổn định và sản phẩm cạnh tranh, hợp tác xã có vai trò rõ hơn trong tổ chức sản xuất, còn người nông dân có đầu ra và động lực nâng chất lượng. Khi đó, một vùng nguyên liệu càng phát triển càng có khả năng thu hút thêm đầu tư, thay vì trở thành cuộc cạnh tranh ngắn hạn về giá thu mua.
