Mạnh dạn chuyển đổi để nâng thu nhập
Thực tế tại cơ sở cho thấy, khi người dân chủ động thay đổi cách làm, mạnh dạn đầu tư và lựa chọn hướng sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế, hiệu quả kinh tế có thể được nâng lên rõ rệt.
Tại bản Noong Nhai, phường Mường Thanh, bà Nguyễn Thị An đã chuyển đổi gần 2.000m² đất sản xuất lúa nước sang trồng mướp thương phẩm. Để nâng hiệu quả canh tác, gia đình bà chủ động đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm, sử dụng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học trong toàn bộ quy trình chăm sóc.
Từ mô hình này, hiệu quả của việc lựa chọn cây trồng phù hợp với nhu cầu thị trường được thể hiện khá rõ. Trên cùng diện tích đất, giá trị thu được từ cây mướp cao hơn nhiều lần so với trồng lúa.
“Trước cấy lúa thì chỉ được 6-7 tạ thóc, tính ra được khoảng 1,2 triệu đồng. Vừa rồi tôi cắt bán mướp giá 12.000 đồng/kg, thu được mấy chục triệu đồng trên 1.000m², gấp nhiều lần so với trồng lúa”, bà An chia sẻ.
Câu chuyện ở Noong Nhai cho thấy xây dựng NTM không chỉ là đầu tư đường giao thông, trường học hay các công trình phúc lợi. Quan trọng hơn, đó còn là quá trình tạo sinh kế, giúp người dân khai thác hiệu quả nguồn đất đai và nâng cao thu nhập ngay trên quê hương mình.
Từ cây dứa mở hướng làm giàu ở vùng biên
Nếu người dân phường Mường Thanh lựa chọn chuyển đổi cây trồng để nâng giá trị trên cùng diện tích đất, thì tại xã biên giới Na Sang, lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng đang được khai thác để phát triển cây dứa.
Phù hợp với điều kiện đất dốc, cây dứa được trồng xen dưới tán cao su, từng bước mở rộng diện tích và hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
Tại bản Na Sang, gia đình anh Quàng Văn Việt là một trong những hộ đầu tiên mạnh dạn chuyển đổi toàn bộ 4ha đất nương từng trồng sắn, ngô nhưng hiệu quả kinh tế thấp sang trồng dứa.
Không chỉ đầu tư sản xuất, anh Việt còn chủ động học hỏi kinh nghiệm, kỹ thuật chăm sóc để nâng năng suất. Hiện năng suất bình quân của gia đình đạt khoảng 40 tấn/ha, lợi nhuận sau khi trừ chi phí từ 200-250 triệu đồng/ha, tùy thời điểm.
Hiệu quả từ mô hình đã tạo thêm niềm tin để các hộ khác trong bản học tập và làm theo.
“Đã có kinh nghiệm nhiều năm, nên tôi tích cực hướng dẫn bà con trong bản phát triển trồng dứa, nâng cao thu nhập. Có hộ đến tham quan mô hình, thấy trồng dứa hiệu quả, cũng chủ động đầu tư mua giống về trồng”, anh Việt cho biết.
Từ một mô hình của hộ gia đình, cây dứa đang từng bước trở thành một hướng sản xuất hàng hóa tại Na Sang.
Hiện xã có 378ha dứa, trong đó khoảng 110ha đã cho thu hoạch. Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng diện tích dứa lên khoảng 500ha.
Cùng với cây dứa, Na Sang xây dựng kế hoạch phát triển chè Shan tuyết cổ thụ, cà phê, mắc ca dựa trên lợi thế của từng khu vực. Định hướng này nhằm từng bước hình thành những vùng cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai, có khả năng tạo giá trị và đáp ứng nhu cầu thị trường.
Chính quyền đồng hành, người dân quyết định
Để những mô hình sản xuất có hiệu quả được nhân rộng, vai trò định hướng và hỗ trợ của chính quyền cơ sở có ý nghĩa quan trọng.
Tại Na Sang, chính quyền xã chủ động hỗ trợ người dân về giống, vốn, kỹ thuật và tổ chức sản xuất, đồng thời khuyến khích những mô hình hiệu quả trở thành điểm tham quan, học tập cho các hộ khác.
Ông Trần Hồng Quân, Chủ tịch UBND xã Na Sang, cho biết chính quyền định hướng, hỗ trợ về kỹ thuật và chính sách, còn người dân chủ động lựa chọn cây trồng phù hợp để đầu tư.
“Mô hình hiệu quả được khuyến khích nhân rộng. Những hộ làm tốt, có thu nhập cao sẽ trở thành địa chỉ để các hộ khác cùng đến tham quan, học tập”, ông Quân cho biết.
Cách làm này cho thấy vai trò của chính quyền không phải làm thay người dân mà là tạo môi trường, cung cấp thông tin, hỗ trợ kỹ thuật và chính sách để người dân có điều kiện đưa ra lựa chọn phù hợp.
Khi người dân thấy rõ hiệu quả và chủ động tham gia, các mô hình sản xuất có khả năng lan tỏa tự nhiên, tạo thành những vùng sản xuất hàng hóa thay vì phát triển manh mún, nhỏ lẻ.
“Sức dân” tạo nên những con đường mới
Không chỉ thể hiện trong phát triển kinh tế, vai trò chủ thể của người dân còn được thể hiện rõ trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.
Thông qua công tác tuyên truyền, vận động của các tổ chức chính trị - xã hội, người dân toàn tỉnh đã tự nguyện hiến trên 224.000m² đất, đóng góp hơn 69.000 ngày công và trên 9,2 tỷ đồng để xây dựng các công trình phúc lợi.
Tại bản Ma Lù Thàng, xã Mường Tùng, người dân đã hiến đất, góp công xây dựng tuyến đường bê tông dài gần 10km, rộng 3,5m.
Những con số này không chỉ phản ánh sự đóng góp về vật chất. Quan trọng hơn, đó là sự đồng thuận của người dân với những công trình phục vụ trực tiếp đời sống cộng đồng.
Khi một tuyến đường được mở rộng, việc đi lại thuận lợi hơn; hàng hóa dễ dàng lưu thông; cơ hội tiếp cận thị trường, trường học, cơ sở y tế cũng được cải thiện. Vì vậy, sự đóng góp của người dân hôm nay không chỉ tạo ra một công trình mà còn mở thêm cơ hội phát triển cho chính cộng đồng.
Đặt mục tiêu nâng chất lượng nông thôn mới
Điện Biên hiện có 45 xã, phường với 888 thôn, bản, tổ dân phố. Tỉnh đặt mục tiêu đến cuối năm 2026 có 5 xã gồm Thanh Nưa, Thanh An, Mường Phăng, Mường Ảng, Tuần Giáo và 93 thôn, bản thuộc 40 xã, phường đạt chuẩn NTM theo bộ tiêu chí giai đoạn 2026-2030.
Trong đó, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn phấn đấu đạt 41,38 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm 3% so với năm 2025.
Tỉnh cũng phấn đấu phát triển mới 70 sản phẩm OCOP, nâng tổng số sản phẩm OCOP lên 227 sản phẩm; đồng thời hình thành, củng cố các vùng sản xuất tập trung, mô hình liên kết theo chuỗi giá trị và kinh tế tập thể.
Những mục tiêu này cho thấy xây dựng NTM ở Điện Biên đang được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng đời sống. Một vùng nông thôn phát triển không chỉ được đánh giá bằng những con đường mới hay những công trình khang trang mà còn phải được thể hiện bằng thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận thị trường và mức sống của người dân.
Theo ông Lò Hồng Phong, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trung ương có chủ trương tích hợp, sáp nhập các Chương trình mục tiêu quốc gia. Trên cơ sở đó, Sở sẽ tích cực tham mưu cho UBND tỉnh các giải pháp, kế hoạch thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030 sát thực tế hơn.
Ông Phong nhấn mạnh, nguồn lực Nhà nước rất quan trọng, nhưng “sức dân” mới là yếu tố quyết định đến tính bền vững. Khi người dân đồng thuận, tự nguyện tham gia từ quy hoạch, đóng góp đến giám sát và thụ hưởng, chất lượng và hiệu quả của các chương trình sẽ được nâng lên.
Khi người dân thực sự là chủ thể
Những câu chuyện từ bản Noong Nhai, Na Sang hay Ma Lù Thàng cho thấy một điểm chung: xây dựng NTM chỉ thực sự bền vững khi người dân không đứng ngoài cuộc mà trực tiếp tham gia và hưởng lợi từ quá trình phát triển.
Một hộ dân chuyển đổi cây trồng thành công có thể tạo động lực cho nhiều hộ khác làm theo. Một tuyến đường được người dân hiến đất, góp công có thể mở ra cơ hội giao thương cho cả bản. Một vùng sản xuất được hình thành từ những mô hình riêng lẻ có thể trở thành nền tảng để phát triển liên kết và xây dựng thương hiệu nông sản.
Ở chiều ngược lại, vai trò của cấp ủy, chính quyền là phải sâu sát cơ sở, nắm bắt nhu cầu thực tế, định hướng đúng và hỗ trợ kịp thời để nguồn lực trong dân được phát huy hiệu quả.
Từ một luống mướp cho thu nhập cao hơn, một vùng dứa đang mở rộng ở xã biên giới đến những tuyến đường được hình thành từ đất và công sức của người dân, xây dựng NTM ở Điện Biên đang được cụ thể hóa bằng những thay đổi ngay trong đời sống. Khi người dân có sinh kế tốt hơn, chủ động hơn và đồng thuận cùng chính quyền, những tiêu chí NTM không còn là những con số trên giấy mà trở thành những giá trị hiện hữu trong từng bản làng.
