Chuyển đổi xanh làng nghề đang trở thành điều kiện bắt buộc, không còn là lựa chọn, để sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam giữ được chỗ đứng tại các thị trường xuất khẩu khó tính.
Khi tiêu chuẩn môi trường trở thành rào cản thương mại

Làng gốm Bát Tràng, Hà Nội. Nguồn: Wikimedia Commons/ Ảnh minh hoạ.
Theo bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương), các tiêu chuẩn xanh ngày càng đóng vai trò như một "tấm vé vào cửa" đối với hàng hóa xuất khẩu, thay vì chỉ là yêu cầu mang tính khuyến khích như trước. PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cũng nhận định các tiêu chuẩn môi trường tại nhiều thị trường nhập khẩu đang dần trở thành rào cản thương mại thực chất, buộc doanh nghiệp và cơ sở sản xuất phải thay đổi để không bị loại khỏi cuộc chơi.
Phần lớn làng nghề vẫn manh mún, chưa hoàn thành chuyển đổi xanh làng nghề
Áp lực đó đặt trên nền một thực trạng chuyển đổi xanh làng nghề đã tồn tại nhiều năm. Theo khảo sát từng được công bố, Hà Nội có khoảng 292 làng nghề thì trong đó có tới 79% số làng nghề trên địa bàn đang gây ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau. Bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, nhìn nhận phần lớn làng nghề hiện vẫn sản xuất manh mún, quy mô nhỏ lẻ và chưa thực sự chuyển đổi xanh. Điểm sáng hiếm hoi được ghi nhận là làng gốm Bát Tràng, nơi nghệ nhân Trần Đức Tân cho biết việc chuyển từ lò nung than sang lò nung gas đã giúp giảm 20-40% chi phí sản xuất so với dùng than, đồng thời nâng tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn lên khoảng 95%. Đến nay, cùng với làng lụa Vạn Phúc, Bát Tràng là hai làng nghề hiếm hoi của Hà Nội gia nhập được Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO - cho thấy khoảng cách còn khá xa giữa số ít mô hình điển hình và mặt bằng chung của làng nghề.
Làng nghề chỉ giữ được 10-15% giá trị sản phẩm

Sản phẩm đan lát thủ công. Nguồn: Wikimedia Commons/ Ảnh minh hoạ.
Khoảng cách giá trị giữa sản xuất và bán lẻ cũng là một rào cản khác. Một ví dụ được nêu cho thấy: một chiếc giỏ mây bán lẻ tại châu Âu có thể đạt 25-40 euro, trong khi giá xuất khẩu (FOB) chỉ khoảng 6-9 USD, và cơ sở làng nghề trực tiếp sản xuất chỉ nhận được khoảng 3-5 USD - tương đương 10-15% giá trị cuối cùng của sản phẩm. Đây là minh chứng cho thực trạng làng nghề Việt Nam phần lớn vẫn dừng ở khâu gia công, chưa xây dựng được thương hiệu và kênh phân phối riêng để giữ lại phần giá trị gia tăng lớn hơn.
Thêm áp lực chứng chỉ, bao bì sinh học, xử lý chất thải
Nghệ nhân ưu tú Hà Thị Vinh, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam từng cho biết người mua quốc tế ngày càng ưu tiên sản phẩm có chứng chỉ trách nhiệm xã hội như SA 8000 hoặc chứng nhận VSCI, đồng thời yêu cầu chuyển sang vật liệu bao bì thân thiện môi trường như giấy tổ ong, bìa tổ ong - trong khi nguồn cung các vật liệu này trong nước còn hạn chế. Nhiều cơ sở làng nghề cũng phải đầu tư lớn cho hệ thống xử lý chất thải để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường của thị trường nhập khẩu. Theo bà Vinh, tốc độ tăng trưởng của ngành thủ công mỹ nghệ giai đoạn 2024-2025 đạt khoảng 8,7%, thấp hơn mức tăng trưởng bình quân toàn cầu của ngành hàng này.
TS Tôn Gia Hòa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, cho rằng điều cần thay đổi trước tiên là tư duy sản xuất hướng tới bền vững ngay từ trong mỗi cơ sở làng nghề. Còn theo TS Lê Quang Thắng, giảng viên Trường Đại học Phenikaa, để chuyển đổi xanh làng nghề thành công cần một cơ chế đồng bộ và toàn diện, kết hợp hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nhân lực và chính sách thị trường - thay vì để từng làng nghề tự xoay xở như hiện nay. Với các làng nghề chế biến, sản xuất công nghiệp nông thôn đang hướng tới thị trường xuất khẩu, đó cũng là hướng đi để chuyển đổi xanh làng nghề không dừng lại ở vài mô hình điển hình như Bát Tràng, mà trở thành năng lực chung của cả ngành.
