Khuyến công Quảng Ninh: Tạo lực đẩy để cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ

Giai đoạn 2021-2025, chương trình khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã triển khai 83 đề án, nhiệm vụ, với tổng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hơn 20,4 tỷ đồng, đồng thời huy động trên 27,7 tỷ đồng vốn đối ứng từ các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT). Từ hỗ trợ máy móc, chuyển giao công nghệ đến sản xuất sạch hơn và xúc tiến thương mại, chính sách khuyến công đang từng bước trở thành động lực giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh.
Khuyến công Quảng Ninh: Tạo lực đẩy để cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ

Hơn 20 tỷ đồng hỗ trợ phát triển công nghiệp nông thôn

Trong giai đoạn 2021-2025, chương trình khuyến công trên địa bàn Quảng Ninh đã triển khai 83 đề án, nhiệm vụ, với tổng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hơn 20,4 tỷ đồng. Cùng với nguồn hỗ trợ này, các cơ sở CNNT đã đối ứng hơn 27,7 tỷ đồng, cho thấy khả năng huy động nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển sản xuất.

Trong tổng số 83 đề án, nhiệm vụ, chương trình khuyến công địa phương thực hiện 72 đề án, nhiệm vụ, với kinh phí hỗ trợ hơn 10,9 tỷ đồng; khuyến công quốc gia thực hiện 11 đề án, hỗ trợ 9,5 tỷ đồng.

Một trong những trọng tâm được Quảng Ninh chú trọng là hỗ trợ các cơ sở CNNT ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Cụ thể, trong 5 năm, tỉnh đã hỗ trợ 67 cơ sở CNNT đầu tư máy móc, thiết bị tiên tiến phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, với tổng kinh phí 14,9 tỷ đồng.

Trong đó, chương trình khuyến công quốc gia thực hiện 9 đề án, hỗ trợ 24 cơ sở với kinh phí 7,1 tỷ đồng; khuyến công địa phương thực hiện 43 đề án, hỗ trợ 43 cơ sở với kinh phí 7,8 tỷ đồng.

Các cơ sở được hỗ trợ hoạt động trong nhiều lĩnh vực như cơ khí, chế biến thực phẩm, chế biến lâm sản, may mặc... Đây đều là những ngành có nhu cầu lớn về đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm.

Điểm đáng chú ý là nguồn vốn khuyến công không chỉ giúp các cơ sở có thêm nguồn lực đầu tư ban đầu mà còn tạo động lực để doanh nghiệp chủ động bỏ vốn đối ứng, từng bước thay đổi phương thức sản xuất.

Từ một khoản hỗ trợ, thêm động lực đổi mới công nghệ

Hiệu quả của chính sách được thể hiện rõ qua những trường hợp cụ thể tại cơ sở sản xuất.

Tại Công ty TNHH Một thành viên Nước khoáng Công đoàn Quang Hanh, năm 2025, doanh nghiệp được hỗ trợ 300 triệu đồng từ chương trình khuyến công quốc gia để đầu tư nồi hơi đốt than công suất 1.500 kg hơi/giờ và máy vặn nắp chai PET công suất 8.000 chai/giờ.

Cùng với quá trình đầu tư, đổi mới hoạt động sản xuất, doanh thu của doanh nghiệp tăng từ 159,878 tỷ đồng năm 2024 lên 196,917 tỷ đồng năm 2025. Đây là kết quả của quá trình sản xuất, kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp; khoản hỗ trợ khuyến công là một trong những nguồn lực góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp tục đổi mới thiết bị.

Theo đại diện Công ty TNHH Một thành viên Nước khoáng Công đoàn Quang Hanh, thời gian tới doanh nghiệp dự kiến tiếp tục mở rộng nhà xưởng, bổ sung dây chuyền sản xuất theo tiêu chuẩn 5S và đầu tư dây chuyền đóng chai thủy tinh, hướng tới giảm rác thải nhựa.

Doanh nghiệp cũng xác định mở rộng thị trường và tăng cường quảng bá công nghệ sản xuất khép kín, sản phẩm thông qua các hội chợ, kênh truyền thông và mạng xã hội.

Việc tiếp cận chính sách khuyến công, theo doanh nghiệp, sẽ tạo thêm nguồn lực để đầu tư máy móc, dây chuyền tự động hóa, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh.

Câu chuyện của Công ty TNHH Một thành viên Nước khoáng Công đoàn Quang Hanh cho thấy một khoản hỗ trợ phù hợp, nếu được gắn với nhu cầu đầu tư thực tế, có thể trở thành “đòn bẩy” để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư lớn hơn.

Chương trình khuyến công hỗ trợ các cơ sở CNNT Quảng Ninh ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực sản xuất.

Chính sách khuyến công ngày càng sát nhu cầu doanh nghiệp

Quảng cáo

Từ thực tiễn triển khai, Quảng Ninh đang tiếp tục đổi mới cách thức thực hiện chính sách khuyến công theo hướng thiết thực, đúng đối tượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Bước vào giai đoạn 2026-2030, tỉnh đã ban hành thêm những cơ sở pháp lý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác khuyến công. Trong đó có Nghị quyết số 07/2026/NQ-HĐND ngày 28/4/2026 quy định mức chi cho các hoạt động khuyến công địa phương giai đoạn 2026-2030 và Quyết định số 50/2026/QĐ-UBND ngày 15/6/2026 quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công địa phương trên địa bàn tỉnh.

Các quy định mới góp phần làm rõ hơn đối tượng, điều kiện, trình tự thực hiện, trách nhiệm của các bên và cơ chế hỗ trợ. Qua đó, việc quản lý, phân bổ và sử dụng nguồn lực khuyến công được định hướng theo hướng công khai, thống nhất và sát hơn với nhu cầu thực tế.

Đáng chú ý, chính sách mới không chỉ tập trung vào hỗ trợ máy móc, thiết bị mà mở rộng sang nhiều khâu trong quá trình phát triển của cơ sở CNNT, từ khởi sự doanh nghiệp, trình diễn kỹ thuật, đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn đến xây dựng nhãn hiệu, xúc tiến thương mại, liên kết doanh nghiệp và đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp.

Đối tượng thụ hưởng gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh trực tiếp sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại các xã, phường, đặc khu và các làng nghề được công nhận, cùng một số nhóm đối tượng khác theo quy định.

Hướng nguồn lực vào công nghệ, xanh hóa sản xuất

Một trong những điểm đáng chú ý của chính sách giai đoạn mới là mức hỗ trợ được thiết kế theo từng nhóm nhiệm vụ.

Đối với ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, mức hỗ trợ được quy định bằng 50% chi phí, tối đa 300 triệu đồng/cơ sở. Trường hợp hỗ trợ dây chuyền công nghệ, mức hỗ trợ tối đa có thể lên tới 450 triệu đồng.

Đối với các mô hình sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, mức hỗ trợ tối đa 500 triệu đồng/mô hình.

Bên cạnh đó, chính sách dành nguồn lực cho xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu, hình thành cụm liên kết doanh nghiệp, xử lý ô nhiễm và đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp.

Cách tiếp cận này cho thấy hoạt động khuyến công đang chuyển dần từ hỗ trợ đơn lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi phát triển của sản phẩm và doanh nghiệp.

Nếu trước đây máy móc, thiết bị là một trong những nội dung hỗ trợ trọng tâm thì trong giai đoạn mới, doanh nghiệp còn được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ rộng hơn: từ công nghệ, sản xuất sạch, thương hiệu đến thị trường.

Đây cũng là yêu cầu phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp hiện nay, khi năng lực cạnh tranh không còn chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà ngày càng gắn với năng suất, chất lượng, công nghệ, khả năng tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường và năng lực tiếp cận thị trường.

Nguồn lực khuyến công tạo thêm động lực để các cơ sở công nghiệp nông thôn Quảng Ninh đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh.

Khuyến công trở thành “bệ đỡ” cho doanh nghiệp nhỏ

Đối với nhiều cơ sở CNNT, hạn chế lớn nhất trong quá trình đổi mới sản xuất vẫn là nguồn vốn và khả năng tiếp cận công nghệ. Một dây chuyền mới, một thiết bị hiện đại hay một giải pháp sản xuất sạch hơn thường đòi hỏi khoản đầu tư vượt quá khả năng của những cơ sở có quy mô nhỏ.

Trong bối cảnh đó, chính sách khuyến công có ý nghĩa như một nguồn vốn “mồi”, giúp cơ sở giảm bớt áp lực đầu tư ban đầu và có thêm động lực huy động nguồn vốn đối ứng.

Thực tế tại Quảng Ninh cho thấy, với hơn 20,4 tỷ đồng ngân sách hỗ trợ trong giai đoạn 2021-2025, các cơ sở CNNT đã huy động thêm hơn 27,7 tỷ đồng vốn đối ứng. Điều này cho thấy chính sách không chỉ tạo ra giá trị từ phần ngân sách được hỗ trợ mà còn có khả năng kích thích doanh nghiệp chủ động đầu tư.

Trong giai đoạn 2026-2030, với hệ thống chính sách tiếp tục được hoàn thiện, công tác khuyến công Quảng Ninh được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực để các cơ sở CNNT đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xanh hóa sản xuất và mở rộng thị trường.

Quan trọng hơn, hiệu quả cuối cùng của khuyến công không chỉ được đo bằng số đề án hay số tiền hỗ trợ, mà ở khả năng giúp doanh nghiệp lớn lên từ chính nội lực của mình, tạo thêm việc làm, nâng giá trị sản phẩm và đóng góp bền vững hơn cho kinh tế địa phương.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm