Từ tôn vinh sản phẩm đến mở rộng thị trường
Theo Sở Công Thương Bắc Ninh, trong giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã dành 4,28 tỷ đồng cho các hoạt động hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn. Nguồn lực khuyến công tập trung vào bình chọn, tôn vinh sản phẩm tiêu biểu, xúc tiến thương mại, quảng bá và hỗ trợ các cơ sở mở rộng thị trường.
Một trong những hoạt động nổi bật là bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (RISEP). Trong 5 năm, Bắc Ninh tổ chức 4 kỳ bình chọn cấp tỉnh, công nhận 79 sản phẩm. Từ kết quả này, 7 sản phẩm tiếp tục được tôn vinh cấp khu vực và 7 sản phẩm được công nhận cấp quốc gia.
Các sản phẩm được công nhận tập trung vào 3 nhóm chính: thủ công mỹ nghệ; chế biến nông, lâm, thủy sản, thực phẩm và đồ uống; thiết bị, máy móc, dụng cụ và phụ tùng cơ khí.
Việc bình chọn không chỉ nhằm tìm kiếm và tôn vinh những sản phẩm có chất lượng, giá trị sử dụng cao. Quan trọng hơn, đây còn là cơ sở để ngành công thương nhận diện những sản phẩm có tiềm năng, từ đó xây dựng các chương trình hỗ trợ phù hợp về đổi mới công nghệ, đầu tư máy móc, đào tạo lao động, phát triển sản xuất và xúc tiến thương mại.
Cùng với tôn vinh sản phẩm, Bắc Ninh chú trọng tạo thêm cơ hội để các cơ sở công nghiệp nông thôn tiếp cận thị trường.
Trong 5 năm, tỉnh tổ chức 2 hội chợ, triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu và hàng thủ công mỹ nghệ, với 552 gian hàng, thu hút 270 lượt cơ sở trong và ngoài tỉnh tham gia.
Bên cạnh đó, 367 lượt cơ sở được hỗ trợ tham gia trực tiếp hoặc đưa sản phẩm đến quảng bá tại các hội chợ, triển lãm trong nước. Một phòng trưng bày sản phẩm công nghiệp nông thôn cũng được hỗ trợ xây dựng, tạo thêm không gian giới thiệu sản phẩm, kết nối khách hàng, đối tác và thúc đẩy tiêu thụ.
Theo đánh giá của Sở Công Thương Bắc Ninh, việc kết hợp giữa bình chọn, tôn vinh và xúc tiến thương mại đã tạo động lực để các cơ sở quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, mẫu mã và xây dựng thương hiệu.
Từ đó, nhiều cơ sở từng bước đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng thị trường.
328,3 tỷ đồng cho công nghệ và sản xuất sạch hơn
Bước vào giai đoạn 2026-2030, Bắc Ninh xác định hoạt động khuyến công tiếp tục là một trong những công cụ hỗ trợ cơ cấu lại công nghiệp khu vực nông thôn, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2030.
Thay vì dàn trải, hoạt động khuyến công được định hướng có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên những ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực, có tiềm năng phát triển và lợi thế cạnh tranh.
Trong định hướng này, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo được xác định là những động lực quan trọng. Cùng với đó, tỉnh thúc đẩy công nghiệp xanh, sản xuất sạch hơn, phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường và các mô hình liên kết bền vững.
Những hình thức hỗ trợ đã phát huy hiệu quả như xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, ứng dụng máy móc tiên tiến và phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu sẽ tiếp tục được ưu tiên.
Các lĩnh vực trọng tâm gồm công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn, sản xuất vật tư, máy nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Đến năm 2030, Bắc Ninh đặt mục tiêu xây dựng 7 mô hình trình diễn kỹ thuật, hỗ trợ 182 cơ sở công nghiệp nông thôn ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến và xây dựng 5 mô hình sản xuất sạch hơn.
Tỉnh cũng dự kiến tổ chức 2 kỳ bình chọn RISEP cấp tỉnh, một hội chợ triển lãm; hỗ trợ xây dựng 10 phòng trưng bày sản phẩm và 40 cơ sở đăng ký nhãn hiệu.
Cùng với hỗ trợ sản xuất, nguồn lực cũng được dành cho phát triển con người. Khoảng 500 cán bộ quản lý doanh nghiệp cùng 200 nghệ nhân, thợ giỏi dự kiến được đào tạo. Chương trình đồng thời đặt mục tiêu tư vấn, hỗ trợ 60 hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Tổng kinh phí dự kiến dành cho nhóm nhiệm vụ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ máy móc, thiết bị, sản xuất sạch hơn và tiêu dùng bền vững là 328,3 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 64,1 tỷ đồng.
Hỗ trợ đúng nhu cầu để doanh nghiệp nâng năng lực
Định hướng mới đã được Bắc Ninh triển khai ngay từ năm 2026.
Trong 6 tháng đầu năm, từ nguồn khuyến công quốc gia, tỉnh thực hiện một đề án trị giá 2,1 tỷ đồng, hỗ trợ 7 doanh nghiệp cơ khí đầu tư máy móc, thiết bị tiên tiến. Đến giữa năm, việc hỗ trợ đã hoàn thành tại 5 doanh nghiệp, đạt hơn 71% kế hoạch.
Với nguồn khuyến công địa phương, ngân sách tỉnh bố trí 5,4 tỷ đồng để thực hiện 30 đề án. Sau 6 tháng, 25 đề án đã được triển khai, đạt hơn 83% kế hoạch.
Trong số này, 13 cơ sở được hỗ trợ đầu tư máy móc, thiết bị; 10 cơ sở được hỗ trợ thiết kế, in thử nghiệm mẫu mã và bao bì sản phẩm.
Những con số trên cho thấy chính sách khuyến công đang từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn thuần cho hoạt động sản xuất sang hỗ trợ nâng cấp năng lực sản xuất và giá trị sản phẩm.
Đây cũng là hướng đi phù hợp trong bối cảnh các cơ sở công nghiệp nông thôn ngày càng phải cạnh tranh về chất lượng, năng suất, mẫu mã, thương hiệu và khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách khuyến công
Trong những tháng cuối năm, ngành công thương Bắc Ninh đặt mục tiêu hoàn thành toàn bộ kế hoạch khuyến công quốc gia và địa phương.
Cùng với bảo đảm tiến độ các đề án, tỉnh sẽ chú trọng nâng cao chất lượng quản lý, năng lực đội ngũ cán bộ, đồng thời tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong quá trình triển khai chính sách.
Một điểm đáng chú ý là chuyển đổi số trong công tác khuyến công cũng được đẩy mạnh.
Trang thông tin điện tử của Trung tâm Phát triển công thương Bắc Ninh được định hướng nâng cấp nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở công nghiệp nông thôn tiếp cận chính sách hỗ trợ nhanh chóng, thuận tiện hơn.
Công tác tuyên truyền cũng được đổi mới theo hướng khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất chủ động tìm hiểu, đăng ký và tham gia các chương trình khuyến công, thay vì chỉ chờ chính sách đến với mình.
Từ câu chuyện bình chọn sản phẩm, mở rộng thị trường đến đầu tư máy móc, công nghệ và sản xuất sạch hơn, Bắc Ninh đang định hình một cách tiếp cận mới đối với khuyến công: không chỉ giúp cơ sở sản xuất “có thêm sản phẩm”, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để sản phẩm có chất lượng tốt hơn, giá trị cao hơn và khả năng cạnh tranh bền vững hơn.
Đây cũng là nền tảng để khu vực công nghiệp nông thôn nâng cao năng lực nội tại, thích ứng với yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
