Hàng trăm triệu tấn phụ phẩm, nhưng giá trị còn bỏ ngỏ
Theo số liệu thống kê được công bố, năm 2020 Việt Nam phát sinh trên 156,8 triệu tấn phế, phụ phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, trong đó khoảng 88,9 triệu tấn từ trồng trọt, 61,4 triệu tấn từ chăn nuôi, 5,5 triệu tấn từ lâm nghiệp và gần 1 triệu tấn từ thủy sản. Đáng chú ý, một thông tin được Cổng Thông tin điện tử Chính phủ công bố năm 2025 dẫn nhận định của PGS.TS Đào Thế Anh cho biết hiện chỉ khoảng 30% lượng phụ phẩm này được tận dụng.
Những con số ấy cho thấy một nghịch lý: Việt Nam không thiếu nguyên liệu, nhưng một phần đáng kể lại nằm ở những thứ chưa được coi là nguyên liệu.
Trong các làng nghề, mùn cưa, dăm bào, gỗ vụn phát sinh liên tục. Tại vùng nông sản, trấu, vỏ, bã hay phần bỏ đi sau sơ chế cũng xuất hiện với khối lượng lớn.
Nếu mỗi cơ sở tự xử lý, đó là chi phí. Nhưng khi có doanh nghiệp thu gom, sơ chế và đưa vào một dây chuyền khác, phụ phẩm có thể trở thành hàng hóa.
Đây chính là logic quan trọng của kinh tế tuần hoàn: thay vì liên tục tìm nguyên liệu mới, tìm cách sử dụng lại giá trị còn nằm trong dòng vật chất đã có.
Từ phụ phẩm làng nghề đến sản phẩm có giá trị
Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Năng lượng Xanh Ước Huyền là một ví dụ đáng chú ý trong hướng đi này.
Doanh nghiệp tận dụng các nguồn phế, phụ phẩm gỗ như mùn cưa, dăm bào, gỗ vụn để sản xuất viên nén sinh khối. Cách làm này tạo ra một vòng giá trị mới: phần dư thừa từ hoạt động sản xuất gỗ được thu gom, xử lý và trở thành nguyên liệu cho sản phẩm năng lượng.
Điểm đáng nói là giá trị không chỉ nằm ở viên nén được tạo ra.
Cơ sở phát sinh phụ phẩm có thêm đầu ra cho phần dư thừa; doanh nghiệp chế biến có nguồn nguyên liệu; còn địa phương giảm áp lực xử lý chất thải.
Một mô hình tương tự đang được thử nghiệm với phụ phẩm nông nghiệp.
Tại Đắk Lắk, Hợp tác xã Nông nghiệp Xuất nhập khẩu 001 Ea Knuếc đang nghiên cứu tận dụng vỏ sầu riêng để sản xuất than sinh học (biochar) và than viên nén. Theo thông tin được Bộ Công Thương giới thiệu, vỏ sầu riêng được xử lý bằng công nghệ nhiệt phân để tạo biochar, sau đó có thể tiếp tục nghiền và ép viên nhằm tạo ra sản phẩm phù hợp với từng mục đích sử dụng.
Từ một loại phụ phẩm khó xử lý, HTX đang thử tạo ra một dòng sản phẩm mới, qua đó kéo dài thêm giá trị của quả sầu riêng sau khi phần múi được tiêu thụ.
Hai trường hợp cho thấy một hướng đi đáng chú ý: phụ phẩm không nhất thiết phải quay lại đúng ngành đã tạo ra nó. Mùn cưa có thể đi sang năng lượng; vỏ nông sản có thể đi sang vật liệu hoặc nhiên liệu; trấu có thể trở thành đầu vào cho nhiều sản phẩm khác nếu có công nghệ phù hợp.
Điểm nghẽn không nằm ở phụ phẩm, mà ở khả năng kết nối
Tuy nhiên, không phải cứ có phụ phẩm là có thể biến thành “mỏ vàng”.
Khó nhất thường nằm ở thu gom, chất lượng nguyên liệu, công nghệ và đầu ra.
Một nhà máy cần hàng nghìn tấn nguyên liệu nhưng phải thu gom từ hàng trăm cơ sở nhỏ sẽ đối mặt với chi phí logistics lớn. Mùn cưa lẫn tạp chất, vỏ nông sản có độ ẩm cao hay nguyên liệu không đồng đều cũng khiến chi phí xử lý tăng.
Vì vậy, muốn hình thành chuỗi phụ phẩm hiệu quả, địa phương cần biết phụ phẩm nằm ở đâu, sản lượng bao nhiêu, phát sinh theo mùa hay quanh năm và cơ sở nào có nhu cầu sử dụng.
Đây là nơi công nghiệp nông thôn có thể tạo ra một mạng lưới mới: Cơ sở A phát sinh phụ phẩm; đơn vị B thu gom, sơ chế; doanh nghiệp C chế biến; sản phẩm mới quay lại thị trường.
Khi chuỗi này đủ ổn định, thứ từng được coi là chi phí xử lý có thể trở thành nguồn nguyên liệu, một dòng doanh thu và thậm chí một ngành nghề mới.
Vì thế, câu hỏi đáng đặt ra không còn là: “Phụ phẩm này xử lý thế nào?” Mà là: “Ai đang cần thứ mà mình đang bỏ đi?”
Đôi khi, một làng nghề không cần tìm nguồn nguyên liệu mới ở đâu xa. Nguồn nguyên liệu ấy có thể đang nằm ngay ở làng bên cạnh – trong những thứ mà nơi đó vẫn xem là phế phẩm.
