Trách nhiệm với mã số vùng trồng: Đắk Lắk mở rộng thị trường bằng dữ liệu

Khi các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tính minh bạch của vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng không còn đơn thuần là một thủ tục hành chính. Tại Đắk Lắk, việc số hóa, chuẩn hóa và quản lý mã số đang được đẩy nhanh, trước mắt tập trung vào khoảng 41.000ha sầu riêng, hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu có dữ liệu, có trách nhiệm và đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Mã số vùng trồng không chỉ để “có mã”

Theo Công văn số 12100/UBND-NNMT vừa được Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Thiên Văn ký, Chủ tịch UBND các xã, phường được giao bố trí nhân lực, kinh phí để thực hiện cấp, cấp lại và quản lý mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (MSCSĐG); đồng thời thực hiện việc tạm dừng, thu hồi hoặc khôi phục mã số theo quy định.

Điểm đáng chú ý là các mã số được cấp theo cơ chế mới sẽ được hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày cấp.

Cách làm này cho thấy sự thay đổi trong phương thức quản lý: thay vì tập trung quá nhiều vào khâu kiểm tra trước khi cấp mã, quy trình được kết hợp giữa giải quyết thủ tục nhanh hơn với tăng cường trách nhiệm và kiểm tra sau cấp.

Với sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đây là thay đổi có ý nghĩa. Thủ tục thông thoáng hơn giúp vùng nguyên liệu, hợp tác xã và doanh nghiệp chủ động tổ chức sản xuất. Nhưng đi cùng với đó là yêu cầu cao hơn về tính chính xác của dữ liệu, chất lượng vùng trồng và trách nhiệm của chủ mã số.

Từ vườn cây đến nhà đóng gói, mỗi trái sầu riêng xuất khẩu không chỉ mang theo giá trị sản phẩm mà còn gắn với một vùng nguyên liệu được định danh, quản lý và truy xuất.

Đưa trách nhiệm quản lý về gần vùng sản xuất

Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, cho rằng việc phân cấp quản lý là yêu cầu tất yếu trong điều kiện địa phương có diện tích sản xuất lớn, trong khi lực lượng chuyên môn cấp tỉnh không thể cùng lúc trực tiếp quản lý hàng trăm địa bàn.

Theo bà Thủy, trước đây lực lượng chuyên môn của ngành còn mỏng so với quy mô quản lý. Trong khi đó, người dân là chủ tư liệu sản xuất nhưng trách nhiệm quản lý mã số lại dồn nhiều vào cơ quan chuyên môn.

Cơ chế mới đưa trách nhiệm quản lý về gần vùng sản xuất hơn, đồng thời tạo điều kiện để người dân chủ động hơn với chính sản phẩm của mình.

“Càng minh bạch càng khẳng định được vị thế của ngành trồng trọt”, bà Thủy nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo ngành nông nghiệp Đắk Lắk, được cấp mã số mới chỉ là điểm bắt đầu. Giá trị của MSVT phải được bảo đảm bằng cả một chuỗi sản xuất, từ quy trình canh tác, sử dụng vật tư, ghi chép nhật ký sản xuất đến truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng và liên kết với doanh nghiệp.

Đây cũng là lý do Đắk Lắk đang triển khai chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu MSVT, từ ngày 7/8 đến 7/9.

Đắk Lắk đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa mã số vùng trồng sầu riêng, gắn quản lý dữ liệu với kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Trước mắt số hóa 41.000ha sầu riêng

Trong giai đoạn đầu, Đắk Lắk tập trung số hóa khoảng 41.000ha sầu riêng. Sau đó, phạm vi sẽ tiếp tục được mở rộng sang khoảng 217.000ha cà phê, cùng các cây trồng chủ lực như mắc ca, ca cao, chanh leo và hơn 2.400 nhà yến.

Mục tiêu của chiến dịch không chỉ là hoàn thành danh sách mã số vùng trồng.

Xa hơn, địa phương hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu sản xuất đồng bộ, trong đó có thể định danh vùng nguyên liệu, cập nhật quá trình sản xuất và từng bước kết nối dữ liệu từ vùng trồng đến cơ sở đóng gói, tiêu thụ.

Đây là bước chuyển quan trọng từ quản lý bằng hồ sơ giấy sang quản lý bằng dữ liệu; từ tư duy “xin cấp mã” sang “chịu trách nhiệm với mã số”.

Khi dữ liệu vùng trồng được cập nhật đầy đủ và chính xác, doanh nghiệp có thêm cơ sở lựa chọn vùng nguyên liệu, cơ quan quản lý thuận lợi hơn trong kiểm tra, giám sát, còn người sản xuất có thể chứng minh rõ hơn nguồn gốc và quy trình tạo ra sản phẩm.

Khuyến nông “cầm tay chỉ việc”, giúp nông dân làm chủ mã số

Để quá trình số hóa không trở thành rào cản đối với người sản xuất, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã trao tài liệu “Hướng dẫn đăng ký, thực hiện và duy trì MSVT, MSCSĐG theo Nghị định 38/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 36/2026/NQ-CP cho lực lượng khuyến nông địa phương tại Đắk Lắk.

Tài liệu tập trung vào những nội dung thiết thực như đăng ký trên môi trường điện tử, quản lý mã số, chuẩn bị hồ sơ, truy xuất nguồn gốc và xử lý các tình huống thường gặp trong thực tế.

Quảng cáo

Ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho rằng đây là bước khởi đầu trong chuỗi hành động nhằm đưa các chủ trương, chính sách và quy định của Nhà nước vào thực tiễn sản xuất, để người nông dân thực sự được hưởng lợi.

Theo ông Thanh, số hóa chỉ có ý nghĩa khi người sản xuất có thể sử dụng được công cụ số.

Việc đăng ký MSVT trên Cổng Dịch vụ công là một bước tiến quan trọng, nhưng với những người ít sử dụng điện thoại thông minh hoặc chưa quen với thủ tục trực tuyến, quy trình này vẫn có thể trở thành trở ngại.

Vì vậy, lực lượng khuyến nông cần đi sát cơ sở, hướng dẫn người dân từng bước, từ đăng ký mã số đến tổ chức sản xuất và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

“Có MSVT mới chỉ là điều kiện ban đầu. Muốn đưa sầu riêng vào thị trường xuất khẩu, nông dân còn phải tổ chức sản xuất theo quy trình, kiểm soát chất lượng, liên kết với doanh nghiệp và hình thành chuỗi sản xuất ổn định”, ông Thanh nhấn mạnh.

Từ thủ tục trên giấy đến trách nhiệm trên từng vườn cây

Thực tế tại vùng sản xuất cho thấy nhu cầu được hướng dẫn trực tiếp của nông dân là rất lớn.

Ông Nguyễn Cừ, nông dân trồng sầu riêng tại xã Krông Pắc, cho biết với những người lớn tuổi, ít sử dụng điện thoại thông minh, việc tiếp cận các thủ tục trực tuyến không đơn giản.

Theo ông, khi cán bộ khuyến nông trực tiếp hướng dẫn từng bước kê khai và hoàn thiện hồ sơ, người dân dễ thực hiện hơn. Quan trọng hơn, sau khi được cấp mã, người trồng cũng cần biết cách duy trì mã, ghi chép quá trình sản xuất và tuân thủ đúng các quy định.

Cùng quan điểm, bà Hồ Thị Hoa, một nhà vườn tại địa phương, cho rằng điều người trồng sầu riêng cần không chỉ là được cấp mã số mà còn phải được hướng dẫn cách duy trì mã, ghi nhật ký sản xuất, sử dụng vật tư đúng quy định và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thu mua.

Khi vùng trồng được quản lý chặt chẽ, người nông dân cũng có thêm cơ sở để nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ đầu ra.

Đây cũng là lúc vai trò của khuyến nông xã và Tổ khuyến nông cộng đồng trở nên rõ nét hơn. Không chỉ hỗ trợ thủ tục, lực lượng này được kỳ vọng trở thành “cánh tay nối dài” trong kiểm soát chất lượng vùng trồng.

Từ hướng dẫn hồ sơ, cập nhật dữ liệu đến quy trình sản xuất an toàn, cán bộ cơ sở phải giúp người dân biến những yêu cầu tưởng như rất kỹ thuật của thị trường thành những việc cụ thể có thể thực hiện ngay trên từng vườn cây.

Bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, cho rằng mỗi mã số được chuẩn hóa là thêm một bước minh bạch hóa vùng nguyên liệu, củng cố niềm tin của doanh nghiệp và thị trường.

Chuẩn hóa mã số phải đi cùng chuẩn hóa sản xuất

Theo ông Lê Quốc Thanh, khuyến nông trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở tuyên truyền. Cán bộ cơ sở cần hiểu quy định của từng thị trường, nắm được yêu cầu của doanh nghiệp và có đủ năng lực hỗ trợ người dân tổ chức sản xuất theo chuỗi.

Đối với Đắk Lắk, yêu cầu này càng cấp thiết khi địa phương có nhiều ngành hàng nông sản giá trị lớn, trong đó sầu riêng là một trong những cây trồng phát triển nhanh và có dư địa thị trường đáng kể.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đặng Thị Thủy cho rằng, chuẩn hóa MSVT phải đi cùng chuẩn hóa phương thức sản xuất.

Khi mỗi vùng trồng được định danh, từng hộ sản xuất có trách nhiệm với dữ liệu và quy trình canh tác, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để yên tâm liên kết. Người tiêu dùng cũng có thêm khả năng kiểm chứng nguồn gốc sản phẩm.

Đó là cách mã số vùng trồng chuyển từ một yêu cầu quản lý thành một tài sản dữ liệu của vùng nguyên liệu.

Từ “có mã” đến xây dựng vùng nguyên liệu có trách nhiệm

Đắk Lắk đang đặt mã số vùng trồng trong một bài toán rộng hơn: tái cấu trúc vùng nguyên liệu bằng dữ liệu.

Sau sầu riêng, tỉnh dự kiến tiếp tục số hóa các ngành hàng chủ lực. Vì vậy, chiến dịch “30 ngày đêm” không chỉ nhằm hoàn thành một mục tiêu ngắn hạn, mà còn là bước thử nghiệm cho phương thức quản lý nông nghiệp hiện đại hơn.

Trong phương thức đó, dữ liệu trở thành công cụ để kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, quản lý vùng nguyên liệu và kết nối thị trường.

Với nông dân, trách nhiệm không dừng lại ở việc đăng ký và nhận mã số. Với cơ quan quản lý, nhiệm vụ cũng không kết thúc khi cấp mã. Còn với doanh nghiệp, mã số chỉ thực sự có giá trị khi đi cùng một vùng nguyên liệu ổn định và sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu thị trường.

Khi mỗi mã số gắn với một vùng trồng có thật, một quy trình sản xuất minh bạch và một chủ thể chịu trách nhiệm đến cùng, mã số vùng trồng sẽ không còn là “tấm vé” để bước vào thị trường, mà trở thành nền tảng để nông sản Đắk Lắk đi xa và đi bền vững hơn.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm