Nông sản chịu chi phí tăng, lợi nhuận bị “ăn mòn” vì chờ máy

Sau thu hoạch, nông sản không chỉ đối mặt với nguy cơ giảm chất lượng mà còn chịu một khoản chi phí khó nhìn thấy: thời gian chờ máy. Khi máy sấy, băng tải hoặc các công đoạn trong dây chuyền không đồng bộ, nguyên liệu phải nằm chờ trong khi nhân công, mặt bằng và chi phí vận hành vẫn tiếp tục phát sinh.
Nông sản chịu chi phí tăng, lợi nhuận bị “ăn mòn” vì chờ máy
Nông sản chịu chi phí tăng, lợi nhuận bị “ăn mòn” vì chờ máy/ Ảnh minh họa.

Công suất lớn chưa chắc xử lý được nhiều

Trong các cơ sở sơ chế, sấy và chế biến nông sản, công suất thường được tính bằng tấn/giờ, tấn/mẻ hoặc tấn/ngày. Nhưng công suất của từng thiết bị không đồng nghĩa với năng suất thực tế của cả dây chuyền.

Một máy sấy có thể xử lý lượng nguyên liệu lớn nhưng nếu khâu cấp liệu chậm, máy vẫn phải chờ. Ngược lại, khi máy sấy hoàn thành nhưng thiết bị phía sau không tiếp nhận kịp, sản phẩm tiếp tục bị dồn tại khu vực trung chuyển.

Khoảng thời gian đó không tạo ra thêm sản phẩm nhưng doanh nghiệp vẫn phải duy trì nhân công, mặt bằng và các chi phí vận hành liên quan.

Với nông sản sau thu hoạch, thời gian chờ càng đáng lưu ý bởi nhiều loại nguyên liệu cần được sơ chế, sấy hoặc bảo quản sớm để hạn chế ảnh hưởng đến chất lượng.

Bởi vậy, thay vì chỉ hỏi “chiếc máy này công suất bao nhiêu?”, cơ sở cần quan tâm đến câu hỏi rộng hơn: “Toàn bộ dây chuyền thực tế xử lý được bao nhiêu tấn trong một ca?”

Một dây chuyền đồng bộ có thể giảm chi phí vận hành

Một trường hợp thực tế là dây chuyền vắt, sấy bã sắn được lắp đặt tại nhà máy chế biến tinh bột khoai mì Đức Liễu của Công ty Cổ phần FOCOCEV Bình Phước.

Theo đó, tại nhà máy của công ty này, máy vắt VBS16 và máy sấy khí động tháp sấy thấp được lắp đặt thành dây chuyền đồng bộ. Hệ thống đạt năng suất 0,7-1 tấn bã khô/giờ; độ ẩm bã sau vắt ở mức 59-63%, sau sấy còn 13-16%. Nguồn này cho biết việc chuyển giao dây chuyền giúp doanh nghiệp giảm 5 lần chi phí nhân công và giảm 50% chi phí sấy cho mỗi kg bã khoai mì.

Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở thông số của từng thiết bị mà ở việc các công đoạn được kết nối thành một dây chuyền. Đây là một trường hợp cho thấy việc tổ chức các khâu vắt và sấy liên tục có thể tạo ra hiệu quả về năng suất và chi phí.

Với các cơ sở chế biến nông sản, cách tiếp cận này đặt ra một câu hỏi quan trọng: đầu tư thêm máy hay trước hết phải giải quyết điểm nghẽn giữa các máy đang có?

Quảng cáo
Nông sản chịu chi phí tăng, lợi nhuận bị “ăn mòn” vì chờ máy
Ảnh minh họa.

Từ “mua máy” sang tính cả dòng chảy nguyên liệu

Thị trường cơ khí trong nước hiện có những doanh nghiệp cung cấp cả thiết bị riêng lẻ và dây chuyền phục vụ chế biến nông sản sau thu hoạch.

Công ty TNHH Chế tạo máy Cơ Tân Tiến công bố các dây chuyền sấy nông sản như dây chuyền sấy bắp hạt thương phẩm 50 tấn/ngày và 150 tấn/ngày, sấy cà phê thóc tươi 150 tấn/ngày và sấy bột sắn 50 tấn thành phẩm/ngày. Doanh nghiệp đồng thời cung cấp các thiết bị phụ trợ như băng tải, gầu tải, máy sấy tháp và máy sấy khí động.

Riêng máy sấy tháp được doanh nghiệp công bố sử dụng cho các nguyên liệu dạng hạt như lúa, bắp, cà phê, với năng suất công bố 2-10 tấn/giờ; doanh nghiệp cũng giới thiệu các dây chuyền sấy quy mô đến 150 tấn/ngày.

Việc một nhà cung cấp có cả thiết bị sấy và thiết bị trung chuyển như băng tải, gầu tải cho thấy một hướng tiếp cận phù hợp với bài toán dây chuyền: không chỉ tính công suất của máy mà còn phải tính khả năng đưa nguyên liệu từ công đoạn này sang công đoạn khác.

Nếu chỉ thay một máy bằng thiết bị công suất lớn hơn nhưng điểm nghẽn nằm ở khâu cấp liệu hoặc vận chuyển, phần công suất tăng thêm chưa chắc chuyển thành sản lượng thực tế.

Đo thời gian chờ trước khi mua thêm máy

Với các cơ sở nhỏ và vừa, giảm thời gian chờ không nhất thiết bắt đầu bằng một khoản đầu tư lớn.

Có thể theo dõi trong một ca sản xuất: Máy thực sự chạy bao nhiêu giờ? Dừng bao nhiêu lần? Dừng vì thiếu nguyên liệu, vệ sinh, bảo trì hay chờ công đoạn khác? Nguyên liệu phải nằm chờ bao lâu? Công đoạn nào thường xuyên tạo thành điểm nghẽn?

Giả sử một máy có khả năng hoạt động 8 giờ trong một ca nhưng thực tế chỉ chạy 5-6 giờ vì phải chờ nguyên liệu hoặc chờ công đoạn phía sau, phần thời gian còn lại chính là năng lực sản xuất chưa được khai thác.

Từ dữ liệu đó, doanh nghiệp có thể cân nhắc những giải pháp ít tốn kém hơn trước khi mua máy mới: điều chỉnh lịch tiếp nhận nguyên liệu, bố trí lại mặt bằng, cân đối công suất giữa các công đoạn, bổ sung thiết bị trung chuyển hoặc chuẩn hóa thời gian vệ sinh và bảo trì.

Bài toán sau thu hoạch vì thế không chỉ là giảm hao hụt hay tăng công suất máy. Một phần hiệu quả có thể nằm ngay trong những khoảng thời gian mà nguyên liệu, máy móc và người lao động đang phải chờ nhau.

Nông sản có thể mất giá vì chất lượng giảm, nhưng lợi nhuận cũng có thể bị bào mòn bởi những giờ máy không chạy và nguyên liệu nằm chờ. Đo được “thời gian chờ” có thể là bước đầu tiên để cơ sở nhìn thấy một khoản chi phí lâu nay chưa được tính đúng vào hiệu quả sản xuất.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm