Giá cà phê tăng mạnh phiên thứ hai liên tiếp
Thị trường cà phê trong nước tiếp tục khởi sắc trong sáng 19/8 khi giá thu mua tại các vùng nguyên liệu Tây Nguyên đồng loạt tăng. Đây là phiên tăng thứ hai liên tiếp, với mức điều chỉnh 1.700 - 1.800 đồng/kg so với ngày 18/8.
Sau điều chỉnh, giá cà phê trong nước được thu mua trong khoảng 96.200 - 97.000 đồng/kg.
Tại khu vực Đắk Nông cũ, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, giá cà phê tăng 1.700 đồng/kg, lên 97.000 đồng/kg, cao nhất trong các địa phương được khảo sát.
Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng tăng 1.800 đồng/kg, đạt 96.800 đồng/kg. Lâm Đồng tăng 1.700 đồng/kg, lên 96.200 đồng/kg, thấp nhất trong khu vực.
So với vùng giá 94.200 - 94.900 đồng/kg ghi nhận vào cuối tuần qua, cà phê tại nhiều vùng nguyên liệu đã tăng hơn 2.000 đồng/kg chỉ sau vài phiên giao dịch.
Đà tăng trong nước diễn ra cùng chiều với thị trường thế giới.
Trên sàn London, giá cà phê Robusta giao tháng 9/2026 tăng 1,35%, tương đương 49 USD/tấn, lên 3.670 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 11 tăng 1,39%, tương đương 50 USD/tấn, đạt 3.644 USD/tấn.
Tại sàn New York, cà phê Arabica giao tháng 9/2026 tăng mạnh 2,07%, tương đương 7 US cent/pound, lên 345,1 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12 tăng 1,15%, lên 317,9 US cent/pound.
Theo Reuters, giá Arabica đang phục hồi và tiến sát vùng cao nhất trong ba tuần được thiết lập vào tuần trước. Nguồn cung cà phê Arabica giao ngay vẫn khan hiếm, trong khi lượng tồn kho ở mức thấp đang tạo lực đỡ cho thị trường.
Tồn kho Arabica được ICE chứng nhận đã giảm xuống 231.340 bao, thấp nhất trong khoảng 2,75 năm. Trái lại, tồn kho Robusta trên ICE tăng lên 4.537 lô, mức cao nhất trong 5 tháng.
Hồ tiêu giữ giá, cao nhất 139.000 đồng/kg
Trái với đà tăng của cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước sáng 19/8 tiếp tục đi ngang.
Giá thu mua tại các vùng sản xuất trọng điểm duy trì trong khoảng 136.000 - 139.000 đồng/kg.
Khu vực Đắk Nông cũ, nay thuộc tỉnh Lâm Đồng, tiếp tục ghi nhận mức cao nhất 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 138.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh, giá hồ tiêu cùng duy trì ở 136.000 đồng/kg.
Thị trường thế giới cũng chưa xuất hiện những biến động đáng kể. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia ở mức 6.851 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.900 USD/tấn; tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.
Tiêu đen Việt Nam duy trì khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn, tương ứng với loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia ở mức 9.380 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam đạt 8.400 USD/tấn, trong khi tiêu trắng Malaysia ở mức 12.200 USD/tấn.
Giá lúa tươi tăng, giảm trái chiều
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa ngày 19/8 chưa hình thành xu hướng rõ rệt khi giá một số giống tăng nhẹ, trong khi một số khác giảm.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg, xuống còn 6.200 - 6.400 đồng/kg.
Ở chiều ngược lại, Đài Thơm 8 tăng 100 đồng/kg, lên 6.900 - 7.000 đồng/kg; OM 34 tăng 100 đồng/kg, đạt 6.200 - 6.300 đồng/kg.
Lúa OM 5451 tươi giữ mức 6.700 - 6.800 đồng/kg, trong khi OM 18 dao động 6.800 - 7.000 đồng/kg.
Dù giá một số giống lúa có điều chỉnh, hoạt động mua bán tại nhiều địa phương vẫn khá trầm lắng.
Tại An Giang, giao dịch yếu và nhiều thương lái tạm ngừng mua. Tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh, nguồn lúa tương đối dồi dào nhưng hoạt động thu mua diễn ra chậm, giá chỉ biến động nhẹ.
Diễn biến này cho thấy thị trường lúa hiện chưa có động lực đủ mạnh để tạo ra một xu hướng giá rõ rệt.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu duy trì ổn định
Trong khi giá lúa biến động nhẹ, thị trường gạo nguyên liệu xuất khẩu nhìn chung giữ ổn định.
Gạo IR 504 dao động 9.850 - 9.900 đồng/kg; gạo CL 555 ở mức 9.900 - 10.000 đồng/kg; gạo OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg.
Gạo OM 18 được giao dịch trong khoảng 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Gạo OM 380 và gạo Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Đối với phụ phẩm, giá phổ biến trong khoảng 7.450 - 8.850 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm có giá 8.700 - 8.850 đồng/kg, còn cám ở mức 7.450 - 7.550 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ ít biến động
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo tiếp tục duy trì ổn định.
Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, ở mức 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mức 21.000 đồng/kg.
Gạo thơm Jasmine được bán với giá 16.500 - 17.000 đồng/kg; gạo Đài thơm 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg.
Gạo thường dao động 13.500 - 14.500 đồng/kg, gạo Sóc thường 14.000 - 15.000 đồng/kg. Gạo Sóc Thái ở mức 20.000 đồng/kg, gạo Nhật 22.000 đồng/kg và gạo OM 18 dao động 15.000 - 16.000 đồng/kg.
Giá nếp cũng chưa có biến động mới. Nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg, trong khi nếp 3 tháng khô được giao dịch từ 9.600 - 9.700 đồng/kg.
Gạo Việt Nam giữ giá trên thị trường xuất khẩu
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 500 - 505 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm đạt 370 - 374 USD/tấn; gạo Jasmine dao động 538 - 542 USD/tấn.
Tại Thái Lan, giá gạo 5% tấm ở mức 450 - 454 USD/tấn, gạo 100% tấm từ 374 - 378 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo 5% tấm của Ấn Độ được chào bán ở mức 360 - 364 USD/tấn, còn gạo 100% tấm dao động 292 - 296 USD/tấn.
Xét trên các mức giá được công bố, gạo Việt Nam tiếp tục duy trì mức chào bán cao hơn so với gạo cùng phân khúc của Thái Lan và Ấn Độ.
Nhìn chung, thị trường nông sản ngày 19/8 cho thấy sự phân hóa khá rõ. Cà phê trở thành điểm sáng khi giá trong nước và quốc tế cùng tăng mạnh, trong khi hồ tiêu bước vào trạng thái ổn định. Với lúa gạo, nguồn cung khá dồi dào và giao dịch chậm khiến giá chưa xuất hiện biến động lớn, dù một số giống lúa đã điều chỉnh tăng, giảm nhẹ.
