Na Ba Sao hướng tới sản phẩm OCOP, nâng giá trị vùng đất đá

Từ những diện tích đất đai khắc nghiệt, từng khó tìm được cây trồng phù hợp, cây na đã bén rễ và từng bước trở thành cây trồng chủ lực tại Ba Sao. Không chỉ mang lại nguồn thu nhập cao, tạo việc làm cho người dân, những vườn na trên vùng núi đá còn đang mở ra hướng xây dựng sản phẩm đặc trưng mang thương hiệu “Na Ba Sao”.
Từ vùng đất nhiều đá, cây na dần trở thành cây trồng chủ lực ở Ba Sao, mang lại thu nhập 350-400 triệu đồng/ha/năm và mở hướng xây dựng thương hiệu “Na Ba Sao”.

Từ vùng đất khó đến những vườn na cho thu nhập cao

Ba Sao có địa hình chủ yếu là núi đá vôi, đất sản xuất không thuận lợi cho nhiều loại cây trồng ngắn ngày. Trước đây, người dân chủ yếu dựa vào rừng để mưu sinh. Một số loại cây như nhãn, vải, sắn, ngô, dâu... từng được đưa vào trồng thử nghiệm nhưng hiệu quả không cao do đất dốc, nhiều đá và diện tích đất canh tác hạn chế.

Trong hoàn cảnh đó, việc tìm được một loại cây có khả năng thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên trở thành bài toán quan trọng đối với người dân địa phương.

Gia đình ông Lê Văn Bách là một trong những hộ đi đầu tìm hướng chuyển đổi sản xuất. Năm 1998, khi giống na dai được Nông trường Ba Sao đưa về trồng thử nghiệm, ông Bách mạnh dạn đưa cây na vào sản xuất trên diện tích 12 ha.

Sau thời gian canh tác, cây na cho thấy khả năng thích nghi tốt với điều kiện đất đai, khí hậu của vùng núi đá. Cây sinh trưởng ổn định, cho quả có chất lượng và dần chứng minh hiệu quả kinh tế.

Theo ông Bách, cây na không đòi hỏi kỹ thuật quá phức tạp nhưng để tạo ra những quả na đẹp, to, ngọt và đạt chất lượng cao, người trồng phải tích lũy kinh nghiệm, đồng thời tuân thủ chặt chẽ từng công đoạn chăm sóc.

Từ cắt tỉa cành, ngắt lá đến thụ phấn nhân tạo đều phải được thực hiện đúng thời điểm và phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng của cây.

Gia đình ông hiện duy trì 12 ha na dai truyền thống. Na chính vụ thường cho thu hoạch vào tháng 7 và tháng 8, sau đó tiếp tục cho thu hoạch trái vụ khoảng hai tháng.

Việc chủ động điều tiết thời điểm ra hoa, đậu quả và thu hoạch không chỉ giúp người dân kéo dài thời gian cung ứng sản phẩm mà còn góp phần giảm áp lực tiêu thụ khi sản lượng tập trung vào một thời điểm.

“Trước đây tôi chỉ nghĩ trồng na để không bỏ trống đất, nhưng rồi cây na đã giúp gia đình thay đổi cuộc sống, đồng thời tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương”, ông Bách chia sẻ.

Gia đình ông cũng định hướng sản xuất na sạch, ưu tiên sử dụng các loại phân hữu cơ như nước cá, phân gà và phân chuồng hoai mục để chăm sóc cây.

Không chỉ tạo thu nhập, cây na còn mở thêm việc làm cho người dân địa phương. Vào thời điểm thu hoạch chính vụ, gia đình ông Bách có thể thuê 20-25 lao động mỗi ngày. Ngoài chính vụ, khoảng 10 lao động thường xuyên tham gia các công đoạn chăm sóc, thu hái và sơ chế.

Cây na mở rộng thị trường, tạo sinh kế cho người dân

Hiệu quả của cây na không chỉ thể hiện ở năng suất mà còn được phản ánh qua thị trường tiêu thụ.

Na dai tại vườn hiện có giá khoảng 30.000-40.000 đồng/kg, tùy kích cỡ và chất lượng. Trên thị trường, giá có thể dao động từ 35.000-60.000 đồng/kg.

Sản phẩm được thương lái thu mua và đưa đi tiêu thụ tại nhiều địa phương.

Anh Nguyễn Văn Tiến, một người chuyên thu mua na tại Ba Sao, cho biết sản phẩm được tiêu thụ khá thuận lợi. Tùy từng thời điểm, lượng na thu mua có thể lên tới vài tấn mỗi ngày; vào thời điểm cao điểm có thể đạt khoảng 5-6 tấn/ngày.

Có thời điểm, nguồn hàng tại địa phương chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.

Những tín hiệu này đang tạo thêm động lực để người dân Ba Sao tiếp tục đầu tư, nâng cao chất lượng và mở rộng vùng trồng.

Những vườn na xanh tốt trên vùng núi đá Ba Sao, phường Tam Chúc, đang trở thành hướng sản xuất mang lại thu nhập cao và được địa phương định hướng xây dựng thành sản phẩm OCOP đặc trưng. Ảnh internet

200 ha na hướng tới thương hiệu “Na Ba Sao”

Quảng cáo

Từ những mô hình ban đầu, cây na ngày càng được mở rộng diện tích tại Ba Sao.

Hiện phường Tam Chúc có khoảng 200 ha trồng na với 234 hộ tham gia sản xuất. Cây na được xác định là một trong những cây trồng chủ lực của địa phương nhờ khả năng thích nghi với vùng đất đá và giá trị kinh tế cao.

Sau khoảng ba năm trồng, cây na bắt đầu cho thu hoạch và có thời gian khai thác từ 8-12 năm. Nếu được chăm sóc đúng quy trình, người dân có thể chủ động sản xuất hai vụ trong năm.

Sản lượng được ghi nhận khoảng 8-10 tấn ở vụ chính và 2-5 tấn ở vụ trái mùa.

Đáng chú ý, cây na đang giúp khai thác hiệu quả những diện tích đất trước đây gặp nhiều hạn chế trong sản xuất. Theo đánh giá của địa phương, thu nhập bình quân từ cây na đạt khoảng 350-400 triệu đồng/ha/năm, cao hơn so với nhiều loại cây trồng khác trên cùng địa bàn.

Bà Nguyễn Hồng Hạnh, Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường phường Tam Chúc, cho rằng cây na đang mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét cho người dân.

Chính quyền địa phương thường xuyên bám sát vùng sản xuất, hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn các biện pháp chăm sóc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, từng bước hình thành quy trình sản xuất ổn định.

Tuy nhiên, mục tiêu của địa phương không chỉ dừng ở việc tăng sản lượng.

Phường Tam Chúc đang đưa sản phẩm na vào kế hoạch phát triển OCOP, từng bước hoàn thiện các điều kiện, hồ sơ để hướng tới công nhận na là sản phẩm OCOP của địa phương.

Theo ông Phạm Hoàng Tùng, Chủ tịch UBND phường Tam Chúc, với diện tích khoảng 200 ha, cây na đã trở thành một trong những hướng sản xuất quan trọng của địa phương.

Đây là loại cây phù hợp với những khu vực đất đai vốn khó canh tác, qua đó vừa phát huy hiệu quả sử dụng đất, vừa tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Chuẩn hóa sản xuất để nâng giá trị quả na

Thời gian tới, địa phương tiếp tục đồng hành cùng các hộ trồng na, tập trung chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn chăm sóc và áp dụng các biện pháp phù hợp để phát triển sản xuất theo hướng một năm hai vụ.

Cùng với đó là hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn để tái đầu tư, phối hợp với các hộ sản xuất và hợp tác xã trong quảng bá, kết nối tiêu thụ sản phẩm.

Việc xây dựng sản phẩm OCOP được xác định là một bước đi quan trọng để nâng cao giá trị quả na Ba Sao.

Thông qua kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng, chuẩn hóa quy trình sản xuất và tăng cường quảng bá, địa phương kỳ vọng đưa na Ba Sao từ một sản phẩm nông nghiệp có giá trị trở thành sản phẩm đặc trưng gắn với thương hiệu của vùng đất Ba Sao.

Đây cũng là bước chuyển cần thiết khi sản xuất nông nghiệp ngày càng đòi hỏi không chỉ sản lượng mà còn chất lượng, nguồn gốc và khả năng nhận diện trên thị trường.

Na Ba Sao hướng tới sản phẩm OCOP, nâng giá trị vùng đất đá. Ảnh TTXVN

Từ “đá nhiều hơn đất” đến thương hiệu nông sản

Từ một vùng đất mà người dân từng ví von là “đá nhiều hơn đất”, cây na đã cho thấy khả năng thích ứng và giá trị kinh tế khi được lựa chọn đúng hướng.

Những vườn na xanh tốt trên triền núi đá không chỉ tạo ra sản phẩm được thị trường đón nhận mà còn mở thêm sinh kế cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao giá trị đất đai.

Với diện tích khoảng 200 ha, khả năng sản xuất hai vụ và thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, cây na đang trở thành một trong những hướng phát triển kinh tế đáng chú ý của phường Tam Chúc.

Nếu tiếp tục được đầu tư đồng bộ về kỹ thuật, chất lượng, thương hiệu và thị trường, “Na Ba Sao” có thêm cơ hội nâng tầm giá trị, trở thành sản phẩm đặc trưng gắn với quá trình phát triển kinh tế vùng đồi núi của địa phương.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm