Không để cụm công nghiệp chỉ tồn tại trên quy hoạch
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cụm công nghiệp được kỳ vọng trở thành một trong những động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư và tạo việc làm tại chỗ cho người dân.
Tuy nhiên, thực tế tại một số địa phương cho thấy vẫn tồn tại tình trạng cụm công nghiệp mới dừng ở quy hoạch, hoặc đã có quyết định thành lập nhưng triển khai chậm. Một số nơi hạ tầng chưa đồng bộ, tỷ lệ lấp đầy thấp, chưa thu hút được các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp.
Thậm chí, có cụm công nghiệp còn chưa hoàn thiện đầy đủ thủ tục pháp lý hoặc chưa đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng môi trường. Nếu không được xử lý, những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực mà còn có thể tạo áp lực lên môi trường và đời sống người dân.
Trong bối cảnh đó, tiêu chí về cụm công nghiệp trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 được thiết kế theo hướng chặt chẽ hơn.
Theo Quyết định 51/2025/QĐ-TTg, tiêu chí 3.10 được quy định theo hướng xã có khu công nghiệp hoặc cụm công nghiệp hoặc làng nghề được công nhận hoặc khu vực sản xuất, dịch vụ quy mô phù hợp được quy hoạch, đầu tư xây dựng, bảo đảm đáp ứng các quy định của pháp luật.
Đối với nội dung cụm công nghiệp, Thông tư 17/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương đã cụ thể hóa yêu cầu từ quy hoạch, thành lập đến đầu tư xây dựng và quản lý.
Điều này cho thấy cách tiếp cận mới không chỉ quan tâm đến việc địa phương “có cụm công nghiệp”, mà đặt câu hỏi quan trọng hơn: cụm công nghiệp đó đã được triển khai đúng pháp luật, có hạ tầng, có hoạt động sản xuất và mang lại hiệu quả cho địa phương hay chưa?
Từ quy hoạch đến pháp lý: Phải có đủ căn cứ để triển khai
Theo Thông tư 17/2026/TT-BCT, cụm công nghiệp trước hết phải có trong danh mục các cụm công nghiệp thuộc Quy hoạch hoặc Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đồng thời, cụm công nghiệp phải được thành lập hoặc mở rộng theo đúng quy định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Hồ sơ đánh giá phải có quyết định thành lập hoặc mở rộng cụm công nghiệp.
Đây là bước quan trọng nhằm hạn chế tình trạng quy hoạch kéo dài nhưng không có cơ sở pháp lý để triển khai.
Khi quy hoạch được gắn với quyết định thành lập và các thủ tục đầu tư cụ thể, địa phương phải chuyển từ việc xác định một khu vực trên bản đồ sang tổ chức thực hiện dự án trên thực tế.
Tiếp đó, cụm công nghiệp phải hoàn thiện các thủ tục pháp lý liên quan đến đầu tư xây dựng hạ tầng. Trong đó có các hồ sơ về quy hoạch chi tiết, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, đánh giá tác động môi trường, thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy, giao đất hoặc cho thuê đất và những thủ tục khác theo quy định pháp luật.
Như vậy, tiêu chí mới tạo ra một chuỗi yêu cầu tương đối rõ: có quy hoạch - có quyết định thành lập - đủ pháp lý - có đầu tư hạ tầng - có vận hành.
Hạ tầng phải hoàn chỉnh, không chỉ “có trên hồ sơ”
Một trong những điểm đáng chú ý của tiêu chí giai đoạn 2026-2030 là yêu cầu cụ thể đối với hạ tầng kỹ thuật dùng chung của cụm công nghiệp.
Theo hướng dẫn của Bộ Công Thương, các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung phải được hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng theo quy hoạch chi tiết được phê duyệt.
Các hạng mục gồm giao thông nội bộ, vỉa hè, cây xanh, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, phòng cháy, chữa cháy, cấp điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc nội bộ và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác phục vụ hoạt động chung của cụm công nghiệp. Việc hoàn thành phải có biên bản nghiệm thu theo quy định.
Yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt đối với khu vực nông thôn.
Bởi nếu doanh nghiệp được thu hút vào cụm công nghiệp nhưng hệ thống giao thông, điện, nước, phòng cháy, chữa cháy hoặc xử lý nước thải chưa hoàn chỉnh, hiệu quả đầu tư sẽ bị hạn chế, trong khi nguy cơ phát sinh ô nhiễm và xung đột với hoạt động sản xuất nông nghiệp, đời sống dân cư có thể gia tăng.
Do đó, hạ tầng môi trường không còn là phần việc có thể làm sau, mà phải được tính toán và hoàn thiện đồng bộ cùng quá trình hình thành cụm công nghiệp.
Hiệu quả hoạt động mới là thước đo quan trọng
Một thay đổi đáng chú ý khác là tiêu chí không dừng lại ở việc hoàn thành hạ tầng.
Đối với xã nhóm 1 và nhóm 2, cụm công nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các nhóm yêu cầu về quy hoạch, thành lập và đầu tư xây dựng theo Phụ lục III của Thông tư 17/2026/TT-BCT. Trong đó, hiệu quả hoạt động của cụm công nghiệp được đánh giá thông qua việc thu hút dự án sản xuất, kinh doanh; thu hút lao động địa phương và tạo đóng góp cho ngân sách nhà nước.
UBND cấp xã phải có báo cáo về hiệu quả hoạt động của cụm công nghiệp đối với phát triển kinh tế nông thôn, trong đó thể hiện số lượng dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, số lao động địa phương làm việc tại cụm công nghiệp và mức đóng góp ngân sách nhà nước.
Cách đánh giá này tạo ra sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy quản lý.
Một cụm công nghiệp được đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhưng không có doanh nghiệp hoạt động, ít việc làm và không tạo ra giá trị kinh tế cho địa phương thì khó có thể xem là một mô hình phát triển hiệu quả.
Ngược lại, một cụm công nghiệp được quy hoạch phù hợp, có hạ tầng đồng bộ, thu hút đúng ngành nghề, tạo việc làm cho người dân và đóng góp cho ngân sách sẽ phát huy tốt hơn vai trò là động lực phát triển kinh tế nông thôn.
Quản lý cụm công nghiệp phải có đầu mối rõ ràng
Cùng với quy hoạch và hạ tầng, công tác quản lý cũng được đưa vào nội dung đánh giá.
Theo Thông tư 17/2026/TT-BCT, UBND cấp xã phải có công chức phụ trách hoặc kiêm nhiệm công tác quản lý, phát triển cụm công nghiệp. Chủ đầu tư hạ tầng phải có bộ phận quản lý, vận hành dự án.
UBND cấp xã và chủ đầu tư hạ tầng phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ. Đội ngũ công chức và cán bộ quản lý, vận hành cũng phải được tập huấn về quản lý, phát triển cụm công nghiệp và thực hiện tiêu chí cụm công nghiệp trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026-2030.
Quy định này nhằm khắc phục một trong những điểm yếu thường gặp: có cụm công nghiệp nhưng thiếu đầu mối chịu trách nhiệm theo dõi thường xuyên.
Khi trách nhiệm được phân công rõ, những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp, hạ tầng, môi trường, an toàn và tiến độ hoạt động sẽ có cơ chế theo dõi, báo cáo và xử lý cụ thể hơn.
Phân nhóm xã để phù hợp thực tế, nhưng không hạ chuẩn
Việc áp dụng tiêu chí được phân loại theo nhóm xã.
Theo Điều 9 Thông tư 17/2026/TT-BCT, xã nhóm 1 và nhóm 2 phải đáp ứng các nội dung I, II và III tại Phụ lục III. Trong khi đó, xã nhóm 3 được đánh giá theo các nội dung I, II và mục 3.4 về công tác quản lý cụm công nghiệp.
Cách phân nhóm này tạo độ linh hoạt nhất định, phù hợp với điều kiện phát triển khác nhau giữa các địa bàn.
Đồng thời, Thông tư cũng quy định trường hợp cụm công nghiệp nằm trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì việc đánh giá được thực hiện theo cơ chế do UBND cấp tỉnh giao. Đối với các cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định 105/2009/QĐ-TTg, Thông tư quy định không đánh giá theo nội dung này.
Điều đó giúp việc áp dụng tiêu chí sát hơn với thực tế lịch sử hình thành của các cụm công nghiệp, tránh máy móc trong quá trình đánh giá.
Không chạy theo số lượng, tập trung vào chất lượng
Để đáp ứng yêu cầu mới, các địa phương cần bắt đầu bằng việc rà soát toàn diện danh mục cụm công nghiệp trên địa bàn.
Nội dung rà soát không chỉ là số lượng cụm công nghiệp mà cần làm rõ từng cụm đang ở trạng thái nào: đã có trong quy hoạch hay chưa, đã có quyết định thành lập hay chưa, hồ sơ pháp lý đã đầy đủ chưa, hạ tầng đã hoàn thiện đến đâu, hệ thống môi trường đã được đầu tư và nghiệm thu chưa, tỷ lệ thu hút dự án thế nào, tạo bao nhiêu việc làm cho lao động địa phương và đóng góp ra sao cho ngân sách.
Những tồn tại phải được xác định cụ thể về nguyên nhân, trách nhiệm và thời hạn khắc phục.
Quan trọng hơn, địa phương cần thay đổi cách tiếp cận từ “có cụm công nghiệp” sang “cụm công nghiệp hoạt động hiệu quả”.
Cụm công nghiệp phải được đặt trong tổng thể lợi thế của địa phương, lựa chọn ngành nghề phù hợp, có hạ tầng đồng bộ, kiểm soát tốt môi trường và có khả năng thu hút doanh nghiệp thực chất.
Khi đó, cụm công nghiệp không còn là một chỉ tiêu để hoàn thành trong xây dựng nông thôn mới, mà trở thành hạ tầng kinh tế tạo việc làm, tăng thu nhập, mở rộng không gian sản xuất và tạo nguồn thu cho địa phương.
Đây cũng là nền tảng để mục tiêu xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 chuyển mạnh từ tư duy “đủ tiêu chí” sang “phát triển có chất lượng và bền vững”.
