
Sầu Thái hàng đẹp được giá
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá sầu Thái loại A được thu mua ở mức 73.000-80.000 đồng/kg, loại B dao động 53.000-65.000 đồng/kg, trong khi loại C tiếp tục được thương lượng.
Sầu Thái dạt có giá khoảng 30.000-35.000 đồng/kg.
Đối với sầu Ri6, loại A giữ mức 35.000-40.000 đồng/kg, loại B ở mức 20.000-30.000 đồng/kg, còn loại C thương lượng.
Tại Đồng Nai, sầu Thái loại A được thu mua khoảng 70.000 đồng/kg, loại B 45.000 đồng/kg, loại C thương lượng. Sầu xô AB dao động 40.000-42.000 đồng/kg.
Sầu Ri6 loại A tại Đồng Nai có giá 37.000-40.000 đồng/kg, loại B khoảng 25.000 đồng/kg. Với Musang King, loại A được thu mua 65.000-70.000 đồng/kg, loại B ở mức 40.000-55.000 đồng/kg.
Đắk Lắk ghi nhận giá sầu Thái cao
Đắk Lắk tiếp tục là một trong những khu vực có mức giá sầu riêng cao trong ngày 26/8.
Sầu Thái hàng đẹp loại A được thu mua ở mức 83.000-85.000 đồng/kg, loại B khoảng 63.000 đồng/kg.
Ở nhóm sầu Thái thông thường, loại A dao động 80.000-83.000 đồng/kg, loại B 60.000-63.000 đồng/kg, còn loại C tiếp tục thương lượng.
Trong khi đó, sầu Thái hàng lỗi có mức giá thấp hơn đáng kể. Loại A chỉ đạt 55.000-60.000 đồng/kg, loại B khoảng 45.000-50.000 đồng/kg.
Giá sầu Ri6 tại Đắk Lắk giữ mức 35.000 đồng/kg đối với loại A và 20.000 đồng/kg đối với loại B. Musang King loại A được thu mua khoảng 76.000 đồng/kg, loại B 56.000 đồng/kg.
Tại Gia Lai, sầu Thái loại A có giá khoảng 68.000 đồng/kg, loại B 48.000 đồng/kg, loại C thương lượng. Sầu Thái hàng lỗi ở mức 60.000 đồng/kg.
Sầu Ri6 loại A tại Gia Lai đạt khoảng 35.000 đồng/kg, loại B 22.000 đồng/kg.
Giá sầu riêng phân hóa mạnh theo chất lượng
Diễn biến thị trường ngày 26/8 cho thấy giá sầu riêng chưa tăng đồng loạt tại tất cả các vùng và phân khúc.
Điểm đáng chú ý là sầu Thái hàng đẹp, đạt chuẩn đang có khoảng cách giá khá lớn so với hàng loại thấp, hàng dạt và hàng lỗi.
Điều này cho thấy trong bối cảnh nguồn cung biến động, chất lượng trái ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với khả năng tiêu thụ và mức giá mà thương lái, doanh nghiệp sẵn sàng chi trả.
Những lô hàng có chất lượng tốt, trọng lượng phù hợp, mẫu mã đẹp và đáp ứng yêu cầu thu mua có khả năng duy trì mức giá cao hơn.
Ngược lại, sầu dạt, hàng lỗi hoặc những lô có chất lượng không đồng đều sẽ khó tăng giá tương ứng, thậm chí có thể chịu áp lực khi nguồn cung tăng.
Hơn 1.200 mã số vùng trồng sầu riêng còn hiệu lực
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 1.201 mã số vùng trồng sầu riêng và 120 mã số cơ sở đóng gói còn hiệu lực.
Bên cạnh đó, có 1.166 hồ sơ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) xem xét, phê duyệt.
Việc mở rộng và hoàn thiện hệ thống mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói có ý nghĩa quan trọng đối với năng lực xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam. Trong bối cảnh sản lượng được dự báo tăng cao vào những tháng cuối năm, tiến độ cấp mã số được kỳ vọng góp phần mở rộng khả năng tiêu thụ và hạn chế nguy cơ ùn ứ khi nguồn cung bước vào cao điểm.
Tuy nhiên, khả năng duy trì giá cao sẽ không chỉ phụ thuộc vào sản lượng xuất khẩu. Chất lượng trái, tiêu chuẩn vùng trồng, năng lực đóng gói và nhu cầu thu mua thực tế vẫn là những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sầu riêng Việt Nam.
Sầu Thái hàng đẹp tiếp tục có lợi thế về giá
Trong ngắn hạn, thị trường sầu riêng được dự báo tiếp tục vận động theo hướng phân hóa thay vì tăng đồng loạt.
Nhu cầu thu mua phục vụ xuất khẩu, chất lượng trái và tiến độ tiêu thụ tại các vùng nguyên liệu sẽ tiếp tục quyết định mặt bằng giá.
Trong đó, sầu Thái hàng đẹp nhiều khả năng vẫn duy trì lợi thế nhờ đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường. Ngược lại, nhóm hàng lỗi, hàng dạt sẽ chịu áp lực lớn hơn khi nguồn cung tăng.
Với người trồng, diễn biến giá hiện nay cho thấy câu chuyện của sầu riêng không chỉ nằm ở sản lượng. Kiểm soát chất lượng, tuân thủ tiêu chuẩn và nâng cao khả năng đáp ứng thị trường xuất khẩu đang ngày càng trở thành yếu tố quyết định giá trị của mỗi kilogram sầu riêng.
