Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk vừa đặt mục tiêu cơ giới hóa nông nghiệp gần như toàn diện khâu làm đất, chăm sóc và nâng tỷ lệ thu hoạch bằng máy lên khoảng 70% vào năm 2030. Nhu cầu máy móc tăng nhanh ở các vùng trồng cà phê, sầu riêng trọng điểm, nhưng ngành cơ khí trong nước hiện mới đáp ứng chưa đến 30% nhu cầu thị trường, phần còn lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan.

Ảnh minh họa: máy kéo cơ giới hóa khâu làm đất. Nguồn: BARAKA JOACHIM/Wikimedia Commons.
Mục tiêu cơ giới hóa nông nghiệp gần như tuyệt đối tại vùng trọng điểm cà phê, sầu riêng
Theo Kế hoạch số 5063/KH-SNNMT do Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk ban hành ngày 26/5/2026, địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ giới hóa gần như tuyệt đối hai khâu làm đất và chăm sóc cây trồng, đồng thời nâng tỷ lệ thu hoạch bằng máy lên khoảng 70%. Kế hoạch cũng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cơ giới hóa trong lâm nghiệp và diêm nghiệp từ 15% hiện nay lên trên 50%, cùng tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành chế biến khoảng 10%/năm cho các nhóm cây chủ lực gồm cà phê, sầu riêng, xoài, vải, ca cao và hồ tiêu.
Đắk Lắk là vùng trồng cà phê và cây ăn quả xuất khẩu lớn của cả nước, nơi tình trạng thiếu lao động nông thôn theo mùa vụ đang gây áp lực lên các hộ sản xuất và hợp tác xã. Việc cơ giới hóa đồng bộ khâu chăm sóc, thu hoạch được kỳ vọng vừa giảm phụ thuộc lao động thời vụ, vừa tạo dư địa mở rộng vùng nguyên liệu đạt chuẩn xuất khẩu.
Cơ khí nông nghiệp trong nước mới đáp ứng chưa đến 30% nhu cầu
Nhu cầu máy móc phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp tăng theo các kế hoạch địa phương như trên đang đặt ra bài toán cho phía cung ứng. Theo ông Hồ Phi Tuấn, Trưởng phòng Cơ điện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (số liệu công bố hồi tháng 5/2026, trước thời điểm hợp nhất thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cả nước hiện có hơn 600.000 máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhưng năng lực sản xuất trong nước mới đáp ứng chưa đến 30% nhu cầu; hơn 70% thiết bị còn lại phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan. "Cơ giới hóa nông nghiệp của Việt Nam hiện phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu", ông Tuấn cho biết.
Khoảng trống cung-cầu này đồng nghĩa phần lớn giá trị gia tăng từ làn sóng cơ giới hóa tại các địa phương như Đắk Lắk hiện chảy vào tay các nhà cung cấp thiết bị nước ngoài. Đây là dữ liệu đáng chú ý với doanh nghiệp cơ khí trong nước: thị trường máy nông nghiệp nội địa đang mở rộng theo đúng định hướng chính sách, nhưng phần lớn "miếng bánh" vẫn thuộc về hàng nhập khẩu.
Đâu là điểm nghẽn khiến doanh nghiệp cơ khí trong nước khó chen chân
Bên cạnh năng lực công nghệ, chi phí đầu tư máy móc phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp so với thu nhập của nông hộ vẫn là rào cản lớn, đặc biệt tại các vùng đất sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ. Mạng lưới dịch vụ cơ giới hóa (thuê máy theo vụ, bảo trì, phụ tùng thay thế) tại nhiều địa bàn cũng chưa phát triển đồng bộ, khiến nông hộ và hợp tác xã nhỏ khó tiếp cận máy móc nội địa dù giá thành có thể cạnh tranh hơn hàng nhập khẩu. Đây là những nút thắt mà chính sách tín dụng ưu đãi cho đầu tư máy móc và việc dồn điền đổi thửa, hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn được kỳ vọng sẽ từng bước tháo gỡ trong giai đoạn 2026-2030.
Cùng với đó, xu hướng kết hợp cơ giới hóa với chuyển đổi số - thiết bị bay không người lái, hệ thống tưới tự động, giám sát từ xa - đang mở thêm một hướng cạnh tranh khác cho doanh nghiệp trong nước: thay vì cạnh tranh trực diện về máy móc cơ khí truyền thống với các nhà cung cấp Trung Quốc, Nhật Bản đã có lợi thế lâu năm, doanh nghiệp Việt có thể tìm chỗ đứng ở các giải pháp tích hợp công nghệ, dịch vụ đi kèm và sản phẩm phù hợp với địa hình, quy mô canh tác đặc thù trong nước.
Kết nối quốc tế được xúc tiến song song với nhu cầu trong nước
Ở cấp độ hợp tác quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong tháng 7/2026 đã tiếp Hiệp hội Nông nghiệp Đức (DLG), xác nhận kế hoạch phối hợp tổ chức triển lãm AGRITECHNICA ASIA 2027 tại TP Hồ Chí Minh vào tháng 3/2027 - một kênh để doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ, tiêu chuẩn quốc tế và tìm kiếm đối tác chuyển giao, thay vì chỉ dừng lại ở việc nhập khẩu thiết bị thành phẩm.
Nhìn chung, các mục tiêu cơ giới hóa nông nghiệp mà Đắk Lắk và nhiều địa phương khác đang theo đuổi cho giai đoạn 2026-2030 cho thấy nhu cầu thị trường máy nông nghiệp trong nước sẽ tiếp tục tăng. Việc tỷ trọng đáp ứng của cơ khí nội địa hiện còn thấp vừa là thách thức về năng lực cạnh tranh, vừa là dư địa còn bỏ ngỏ cho doanh nghiệp trong nước nếu giải được đồng thời hai bài toán công nghệ và mạng lưới dịch vụ đi kèm.
