Cơ khí nông nghiệp Việt Nam trước sức ép công nghệ AI từ máy Trung Quốc

Việt Nam hiện phải nhập khẩu khoảng 60-70% máy móc phục vụ nông nghiệp, phần lớn từ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Khi máy Trung Quốc không còn chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ mà đã tích hợp trí tuệ nhân tạo, định vị vệ tinh và khả năng tự hành, bài toán tự chủ công nghệ của ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp trong nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Bài toán cạnh tranh của cơ khí nông nghiệp Việt Nam đang bước sang giai đoạn mới, khi đối thủ nhập khẩu không còn chỉ cạnh tranh bằng giá.

Máy Trung Quốc chuyển từ cạnh tranh giá sang cạnh tranh công nghệ

Theo các thông tin được công bố, máy nông nghiệp Trung Quốc hiện được tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), định vị vệ tinh BeiDou, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu đám mây, camera nhận diện, điều khiển từ xa và công nghệ tự hành - thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ như trước. TSKH Bạch Quốc Khang nhận định đây là thay đổi đáng chú ý, đòi hỏi doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp Việt Nam phải nhìn lại chiến lược sản phẩm. Ông Xuân Trường, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn (Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM), cũng lưu ý xu hướng công nghệ hóa của máy nhập khẩu đang diễn ra nhanh hơn tốc độ đổi mới của nhiều doanh nghiệp cơ khí trong nước.

Ảnh minh hoạ.

Một khoảng cách thị phần kéo dài nhiều năm chưa được thu hẹp

Đây không phải lần đầu ngành cơ khí nông nghiệp Việt Nam đối diện sức ép từ máy nhập khẩu - bài toán cạnh tranh của cơ khí nông nghiệp Việt Nam đã kéo dài nhiều năm. Theo khảo sát ngành từ nhiều năm trước, máy nông nghiệp sản xuất trong nước từng chỉ chiếm khoảng 30% thị phần, trong khi máy nhập khẩu - chủ yếu từ Trung Quốc - chiếm tới 60%; riêng máy liên hợp gặt lúa nội địa chỉ giữ được khoảng 15% thị phần dù cả nước có tới 15 doanh nghiệp sản xuất máy gặt nhưng chỉ 3 đơn vị đạt công suất khoảng 1.000 chiếc/năm. Ông Phan Tấn Bện, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cơ khí nông nghiệp Phan Tấn (Đồng Tháp), khi đó thẳng thắn nhìn nhận ngành cơ khí chế tạo máy nông nghiệp trong nước "đã quá lạc hậu", trong khi giá máy nội địa lại đắt hơn máy Trung Quốc cùng chủng loại từ 15-20%. Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, lý giải một phần nguyên nhân nằm ở dung lượng thị trường của từng loại sản phẩm còn nhỏ, chưa đảm bảo tính kinh tế để đầu tư dây chuyền quy mô lớn. Việc ông Vũ Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tiếp tục xác nhận tỷ lệ nhập khẩu 60-70% vào giữa năm 2026 cho thấy khoảng cách này, sau nhiều năm, vẫn chưa được thu hẹp đáng kể.

Quảng cáo

Cơ hội thị trường không nhỏ nhưng chưa được khai thác tương xứng

Trong khi đó, dư địa thị trường cho máy nông nghiệp nội địa được giới trong ngành đánh giá là không nhỏ. Ông Nguyễn Thể Hà, Viện trưởng Viện Công nghệ Bùi Văn Ngọ, từng ước tính riêng Đồng bằng sông Cửu Long cần tới hàng chục nghìn thiết bị cơ giới hóa, với quy mô thị trường có thể lên tới hàng tỷ USD. Để tiếp cận được dư địa này, ông Vũ Hữu Lê, Giám đốc Công ty TNHH Cơ khí và Xây lắp Hồng Hà, cho rằng Nhà nước cần có chính sách ưu đãi cụ thể hơn về vốn vay, mặt bằng sản xuất và thuế cho doanh nghiệp chế tạo máy nông nghiệp trong nước - một đề xuất đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự.

Điểm nghẽn từ sáng chế đến thị trường của cơ khí nông nghiệp Việt Nam

Một loạt khảo sát của báo Dân Việt giữa tháng 8/2026 chỉ ra chuỗi điểm nghẽn từ nghiên cứu - chế tạo đến thương mại hóa của cơ khí nông nghiệp Việt Nam. Theo đó, chi phí đăng ký sở hữu trí tuệ cho một sáng chế khoảng 35 triệu đồng là gánh nặng với các nhà sáng chế cá nhân; một nhà sáng chế tại Đồng Nai cho biết ông mong muốn Chính phủ có cơ chế hỗ trợ những nhà sáng chế để có thể đầu tư dây chuyền sản xuất công nghiệp. Công ty TNHH MTX Cơ khí Nông nghiệp Phan Tấn từng thẳng thắn nhìn nhận sự lạc hậu của ngành nhiều năm trước - nay cho biết đã bỏ ra hàng tỷ đồng cho nghiên cứu và phát triển nhưng vẫn gặp khó khăn trong khâu thương mại hóa sản phẩm mới. GS.TS Nguyễn Huy Bích (Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM) chỉ ra sự lệch pha giữa nghiên cứu tại viện, trường với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và nông dân. Về phía cơ quan quản lý, ông Vũ Văn Tiến thừa nhận việc ban hành chính sách hỗ trợ lĩnh vực này còn chậm.

Cơ giới hóa theo dịch vụ - hướng đi của các hợp tác xã

Máy kéo phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp trên đồng ruộng

Ảnh minh họa: máy kéo làm đất phục vụ cơ giới hóa. Nguồn: BARAKA JOACHIM/Wikimedia Commons.

Trong lúc chờ chính sách hỗ trợ chế tạo trong nước chuyển biến, một số hợp tác xã đã chọn hướng thuê hoặc đầu tư chung thiết bị cơ giới hóa thay vì mỗi hộ tự mua máy riêng lẻ. HTX Thương mại dịch vụ nông nghiệp Tấn Tú (TP Cần Thơ) cho biết đã đầu tư thiết bị tích hợp trị giá khoảng 400-480 triệu đồng/bộ, giúp mở rộng vùng sản xuất giảm phát thải từ 20 ha lên 110 ha. HTX nông nghiệp Phước Hảo (Vĩnh Long) cũng đang triển khai theo hướng tương tự. Đại diện Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho rằng mô hình dịch vụ cơ giới hóa qua hợp tác xã, tổ hợp tác là một trong những lời giải khả thi cho bài toán vốn đầu tư máy móc của nông dân sản xuất nhỏ lẻ.

Từ đề xuất chính sách ưu đãi vốn, mặt bằng và thuế mà ông Vũ Hữu Lê từng nêu, đến ước tính thị trường hàng tỷ USD mà ông Nguyễn Thể Hà từng chỉ ra, có thể thấy bài toán đặt ra với ngành cơ khí nông nghiệp Việt Nam không thiếu dư địa để giải, mà thiếu một cơ chế đủ đồng bộ - từ bảo hộ sáng chế, tiếp cận vốn, đến thị trường tiêu thụ và dịch vụ cơ giới hóa - để biến dư địa đó thành năng lực cạnh tranh thực sự trước các nước xuất khẩu máy nông nghiệp lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm