Thị phần nội địa vẫn ở mức thấp
Ngành cơ khí nông nghiệp trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 30-32% nhu cầu thị trường máy nông nghiệp, phần còn lại vẫn phải nhập khẩu. Bộ Công Thương từng nêu con số khoảng 30% (nhập khẩu gần 70%, trong đó khoảng 60% từ Trung Quốc) từ năm 2020; một hội thảo do Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch tổ chức năm 2024 đưa ra con số 32%. Tuy nhiên, hiện chưa có khảo sát định lượng độc lập nào cập nhật đến năm 2026 để xác định chính xác tỷ trọng hiện nay - đây là điểm doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp trong nước cần theo dõi thêm.
Tại lễ khởi động triển lãm CIAME Asia Vietnam 2026 ngày 15/4/2026, ông You Ling, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân phối Máy nông nghiệp Trung Quốc, cho biết kim ngạch nhập khẩu máy nông nghiệp từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 2025 đạt 451 triệu USD, tăng 36% so với năm trước. Đây là số liệu do đại diện hiệp hội Trung Quốc cung cấp tại sự kiện, chưa được đối chiếu với thống kê hải quan Việt Nam nên không nên xem là số liệu thống kê độc lập đã được xác nhận.
Nhà sáng chế trong nước: ý tưởng tốt vẫn khó thương mại hóa
Trường hợp ông Nguyễn Văn Lĩnh (Đồng Nai) - nhà sáng chế máy nông nghiệp được vinh danh Nhà khoa học của nhà nông năm 2024 và Nông dân xuất sắc năm 2025 - cho thấy một khoảng cách đáng chú ý giữa khả năng tạo ra sáng chế và khả năng đưa sáng chế vào sản xuất công nghiệp quy mô lớn: ông có sáng chế được đánh giá cao nhưng vẫn khó mở rộng sản xuất vì thiếu vốn đầu tư dây chuyền. Chi phí đăng ký mỗi sáng chế khoảng 35 triệu đồng cũng là một khoản không nhỏ với nhà sáng chế cá nhân hay doanh nghiệp nhỏ.
Ông Võ Trung Lập, Phó Giám đốc Công ty Cơ khí nông nghiệp Phan Tấn (Đồng Tháp) - một trong số ít doanh nghiệp cơ khí nông nghiệp nội địa có sản phẩm được nông dân Đồng bằng sông Cửu Long sử dụng rộng rãi - cho rằng ngành vẫn thiếu cơ chế thị trường đủ mạnh để sản phẩm nội cạnh tranh với hàng nhập khẩu. GS.TS Nguyễn Huy Bích, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Cơ khí Nông nghiệp Việt Nam, nhìn nhận nguyên nhân sâu xa còn nằm ở sự lệch pha giữa nghiên cứu của viện, trường với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Ông đề xuất chuyển hướng sang mô hình nghiên cứu theo đặt hàng, xây dựng quỹ rủi ro công nghệ và một nền tảng dữ liệu kết nối nhà nghiên cứu với doanh nghiệp.
Bức tranh không đồng đều giữa các vùng, cây trồng
Mức độ cơ giới hóa thực tế cũng khác nhau rõ rệt giữa địa phương và loại cây trồng. Tại một số vùng lúa Đồng bằng sông Cửu Long, mô hình máy sạ cụm đang được nhân rộng: Hợp tác xã nông nghiệp Phước Hảo (Vĩnh Long) đã mở rộng diện tích áp dụng từ 50ha thí điểm năm 2022 lên khoảng 200ha trong tổng số 560ha hiện nay, với 350 thành viên tham gia; lượng giống khi sạ cụm chỉ khoảng 7kg/công, thấp hơn mức 8-10kg/công khi sạ bằng máy bay không người lái.
Ngược lại, tại Tây Ninh, dù làm đất cho cây khoai mì đã đạt tỷ lệ cơ giới hóa 100% và trồng đạt khoảng 85%, theo ông Dương Văn Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh, khâu thu hoạch mới chỉ có khoảng 150 máy chuyên dụng, đáp ứng chừng 20% nhu cầu; phần lớn diện tích còn lại vẫn thu hoạch thủ công. Tại Đồng Nai, việc cơ giới hóa khâu cạo mủ cao su gần như bất khả thi do đặc tính sinh học khác nhau của từng cây, trong khi lao động lành nghề cho công việc này ngày càng thiếu hụt.
Gắn cơ giới hóa với sản xuất xanh
Đại diện Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhìn nhận cơ giới hóa đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mới, khi máy móc không chỉ cần tăng năng suất mà còn phải đáp ứng yêu cầu sản xuất xanh, giảm phát thải và xử lý phụ phẩm. Theo đánh giá của các chuyên gia, quá trình này cần sự tham gia đồng bộ của cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nông dân, không thể chỉ dừng ở việc đưa thêm máy xuống đồng.
Khoảng cách từ sáng chế đến thương mại hóa, và từ thương mại hóa đến sản xuất công nghiệp quy mô lớn, vẫn là nút thắt lớn nhất của ngành cơ khí nông nghiệp nội địa hiện nay. Gỡ được nút thắt này (về vốn, thủ tục sáng chế, cơ chế thị trường và kết nối nghiên cứu), doanh nghiệp sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của toàn ngành trong những năm tới.
