Từ thử nghiệm nhỏ đến mô hình trên hàng chục héc-ta chè
Ở vùng chè nổi tiếng của Thái Nguyên, những quả trứng gà được đặt xuống gốc chè không còn là hình ảnh quá xa lạ. Đây là cách nhiều hộ dân và hợp tác xã đang áp dụng nhằm bổ sung nguồn dinh dưỡng hữu cơ cho đất, góp phần cải thiện chất lượng cây chè.
Anh Vũ Thành Thơm, Giám đốc Hợp tác xã Chè sạch Đạt Phát (xã Vô Tranh), là một trong những người tiên phong thực hiện mô hình này.
Theo anh Thơm, sau quá trình tìm hiểu kinh nghiệm sản xuất ở nhiều địa phương và xuất phát từ mong muốn nâng cao chất lượng chè, năm 2023, HTX bắt đầu thử nghiệm bón trứng gà cho hơn 100 gốc chè.
Ban đầu, mỗi gốc chỉ được bổ sung khoảng hai quả trứng. Sau thời gian theo dõi, nhận thấy cây chè sinh trưởng tốt, búp phát triển đồng đều và chất lượng nước trà cải thiện rõ rệt, HTX quyết định mở rộng mô hình.
Đến nay, toàn bộ khoảng 5 ha chè của HTX đều được chăm sóc theo phương pháp này. Mỗi năm thực hiện khoảng ba đợt, mỗi gốc được bổ sung từ ba đến bốn quả trứng.
"Năm 2023 chúng tôi chỉ dám thí điểm cho chè ăn khoảng hai quả trứng mỗi gốc. Sau thời gian theo dõi thấy hiệu quả rõ rệt, hiện nay mỗi lần bón khoảng ba đến bốn quả một gốc và thực hiện khoảng ba lần mỗi năm. Búp chè đẹp hơn, nước trà có vị đậm và ngon hơn", anh Vũ Thành Thơm chia sẻ.
Tận dụng trứng gà hết hạn để tạo nguồn dinh dưỡng hữu cơ
Nguồn nguyên liệu HTX sử dụng là trứng gà hết hạn sử dụng, được thu mua từ các doanh nghiệp với giá khoảng 500 đồng/quả.
Sau khi được xử lý đúng kỹ thuật, trứng được kết hợp với phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho đất. Trung bình mỗi đợt chăm sóc, HTX sử dụng từ 50.000 đến 100.000 quả trứng.
Theo những người làm chè, đây chỉ là giải pháp bổ sung trong quy trình canh tác, hoàn toàn không thay thế các biện pháp chăm sóc truyền thống.
Qua thực tế sản xuất, cây chè phát triển khỏe hơn, búp chè đồng đều hơn, đồng thời chất lượng chè sau chế biến cũng có nhiều chuyển biến tích cực.
Bà Nguyễn Thị Hà, một hộ trồng chè tại xóm Phú Hòa (xã Vô Tranh), cho biết gia đình vẫn duy trì sử dụng phân hữu cơ là chính và bổ sung thêm khoảng bốn quả trứng cho mỗi gốc chè.
Theo bà Hà, sau khi chế biến thành phẩm, nước chè có màu đậm hơn và hương vị cũng đậm đà hơn so với những diện tích không áp dụng phương pháp này.
Vùng chè lớn nhất Thái Nguyên không ngừng đổi mới phương thức sản xuất
Được hình thành trên cơ sở sáp nhập các xã Vô Tranh, Tức Tranh, Cổ Lũng và Phú Đô, xã Vô Tranh hiện có khoảng 2.600 ha chè, là vùng chè lớn nhất tỉnh Thái Nguyên.
Đây cũng là vùng nguyên liệu quan trọng trong chiến lược phát triển chè chất lượng cao của địa phương.
Hiện khoảng 80% diện tích chè đã được đầu tư hệ thống tưới tự động hoặc bán tự động. Song song với việc mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hướng hữu cơ, nhiều hợp tác xã, hộ dân tiếp tục tìm tòi, ứng dụng các giải pháp canh tác mới nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Theo UBND xã Vô Tranh, địa phương luôn khuyến khích người dân mạnh dạn áp dụng những mô hình sản xuất hiệu quả, đồng thời phối hợp với cơ quan chuyên môn theo dõi, đánh giá, hoàn thiện quy trình kỹ thuật trước khi nhân rộng.
Ông Hoàng Xuân Thủy, Chủ tịch UBND xã Vô Tranh, cho biết mục tiêu của địa phương là đưa chè Vô Tranh trở thành một trong những thương hiệu chè tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên và cả nước.
Hiện địa phương đã có 173 ha chè được cấp mã số vùng trồng, tạo điều kiện thuận lợi trong truy xuất nguồn gốc, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Sáng tạo từ thực tiễn để nâng tầm giá trị cây chè
Việc sử dụng trứng gà trong chăm sóc chè vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá dưới góc độ khoa học nhằm xác định đầy đủ hiệu quả và khả năng ứng dụng trên diện rộng.
Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất, mô hình bước đầu cho thấy tinh thần đổi mới, dám thử nghiệm của người trồng chè Vô Tranh trong hành trình nâng cao chất lượng nông sản.
Những sáng kiến xuất phát từ chính đồng ruộng, kết hợp với quy trình sản xuất an toàn, ứng dụng công nghệ và xây dựng vùng nguyên liệu bài bản đang góp phần tạo thêm giá trị cho thương hiệu chè Thái Nguyên, hướng tới phát triển bền vững và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước cũng như xuất khẩu.
