
Muốn chế biến sâu, phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu
Trong nhiều năm, bài toán của sản xuất nông nghiệp thường tập trung vào năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, khi nhu cầu tiêu dùng thay đổi và tiêu chuẩn của thị trường ngày càng cao, sản xuất được nhiều chưa đủ. Nông sản cần được bảo quản tốt hơn, chế biến thành nhiều sản phẩm hơn và quan trọng là có khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn cụ thể của từng thị trường.
Đây cũng là một trong những hướng chuyển dịch đang được Hà Nội thúc đẩy.
Thực hiện Kế hoạch số 193/KH-UBND ngày 30/8/2019 của UBND thành phố Hà Nội về cơ cấu lại lĩnh vực chế biến nông sản gắn với phát triển thị trường, thành phố từng bước chuyển từ tư duy tập trung vào sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã hỗ trợ các cơ sở sản xuất nâng cao năng lực chế biến, áp dụng các chương trình quản lý chất lượng tiên tiến như GMP, HACCP, VietGAP, IPM… Qua đó, doanh nghiệp có thêm điều kiện kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và tiếp cận những thị trường có yêu cầu ngày càng khắt khe.
Thực tế tại một số doanh nghiệp cho thấy công nghệ chế biến đang góp phần làm thay đổi cách nông sản, thực phẩm được đưa ra thị trường.
Tại xã Phúc Thịnh, Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm Videli hiện sản xuất 13 dòng sản phẩm như nem chua rán, dồi sụn, há cảo… trên dây chuyền công nghệ Hàn Quốc.
Việc đầu tư vào công nghệ chế biến và bảo quản giúp doanh nghiệp phát triển các dòng thực phẩm đông lạnh vừa duy trì chất lượng, vừa đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn đối với những sản phẩm nhanh và tiện lợi.
Hiện nhà máy của Videli sản xuất, cung ứng khoảng 180-200 tấn thực phẩm mỗi tháng. Quy mô này cho thấy khi công nghệ được đưa vào đúng khâu, doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực sản xuất, chủ động nguồn cung và mở rộng thị trường thay vì chỉ dựa vào giá trị ban đầu của nguyên liệu.
Không chỉ các sản phẩm chăn nuôi, rau, củ, quả cũng đang có thêm dư địa phát triển thông qua chế biến.
Công ty Jeong Ga Chan là một trong những doanh nghiệp có thế mạnh trong lĩnh vực này, hiện xuất khẩu khoảng 10 tấn sản phẩm mỗi tháng sang thị trường Hàn Quốc.
Một hướng đi khác là đưa những loại nông sản, gia vị truyền thống vào chuỗi chế biến phục vụ xuất khẩu.
Theo bà Phạm Thị Bích Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Phát triển nông nghiệp và Tư vấn môi trường, doanh nghiệp đang chế biến các sản phẩm gia vị hữu cơ từ gừng, nghệ, quế, hồi, tỏi, ớt và sả. Hai vùng nguyên liệu chính hiện đặt tại Cao Bằng và Hà Giang.
Từ nguồn nguyên liệu này, doanh nghiệp đầu tư chế biến và từng bước mở rộng thị trường quốc tế. Trung bình mỗi năm, công ty sản xuất khoảng 300 tấn quế khô, 200 tấn hồi khô, 500 tấn gừng tươi, 100 tấn nghệ khô và 200 tấn ớt chỉ thiên tươi.
Các sản phẩm đã được xuất khẩu sang Mỹ, một số nước châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga và Australia.
Thời gian qua, Hà Nội cũng hỗ trợ doanh nghiệp khai thác cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do, trong đó có CPTPP, EVFTA và những cam kết thương mại mới, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận thị trường quốc tế.
Những mô hình này cho thấy chế biến sâu không thể tách rời vùng nguyên liệu. Muốn có sản phẩm ổn định về chất lượng và đủ khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn, doanh nghiệp cần chủ động được nguồn nguyên liệu hoặc xây dựng mối liên kết bền vững với nông dân, hợp tác xã và các địa phương sản xuất.
Theo Trưởng phòng Chế biến và Phát triển thị trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Thị Thu Hằng, thành phố hiện có trên 1.173 cơ sở sản xuất và kinh doanh nông lâm thủy sản, hơn 1.700 cơ sở chế biến và trên 250 doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản.
Đây là lực lượng quan trọng để thúc đẩy công nghiệp chế biến nông sản của Thủ đô. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn cần tiếp tục đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực bảo quản, phát triển vùng nguyên liệu và tăng cường liên kết với nông dân, hợp tác xã.
Chế biến phải trở thành một mắt xích của chuỗi giá trị
Nếu chỉ đầu tư một nhà máy chế biến mà thiếu vùng nguyên liệu ổn định hoặc không xác định được thị trường đầu ra, hiệu quả đầu tư sẽ khó bền vững.
Bởi vậy, chế biến sâu không đơn thuần là câu chuyện mua thêm máy móc hay xây dựng nhà xưởng. Điều quan trọng hơn là tạo được chuỗi liên kết từ sản xuất nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến phân phối và tiêu thụ.
Trong chuỗi đó, người sản xuất cần biết thị trường cần loại nguyên liệu nào, tiêu chuẩn ra sao; doanh nghiệp chế biến phải chủ động kế hoạch sản xuất; còn hệ thống phân phối đóng vai trò đưa sản phẩm đến người tiêu dùng trong nước và quốc tế.
Theo định hướng đến năm 2030, Hà Nội đặt mục tiêu hình thành ít nhất 15 cơ sở chế biến nông sản gắn với chuỗi giá trị hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Thành phố cũng định hướng phát triển khu phức hợp chế biến, bảo quản và kiểm định theo cơ chế một cửa, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực xuất khẩu.
Cùng với đó là các chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở sơ chế, chế biến, hỗ trợ máy móc, thiết bị và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số.
Tập trung vào những sản phẩm có lợi thế
Thay vì đầu tư dàn trải, Hà Nội định hướng lựa chọn những sản phẩm có thế mạnh, vùng sản xuất tập trung và khả năng phát triển thị trường để ưu tiên chế biến sâu.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường cho biết, đối với nhóm cây ăn quả, thành phố định hướng phát triển các sản phẩm như chuối sấy, nước ép cam và bưởi.
Với nhóm rau, trọng tâm là các sản phẩm gia vị, hương liệu và thực dưỡng. Trong lĩnh vực chăn nuôi, chế biến sản phẩm từ thịt lợn tiếp tục là một trong những hướng đầu tư quan trọng.
Việc xác định rõ những nhóm sản phẩm ưu tiên có ý nghĩa đặc biệt trong điều kiện nguồn lực đầu tư còn hạn chế. Thay vì mỗi địa phương, doanh nghiệp cùng phát triển nhiều sản phẩm nhỏ lẻ, việc tập trung vào những ngành hàng có lợi thế có thể tạo ra quy mô nguyên liệu đủ lớn, thuận lợi cho đầu tư công nghệ và xây dựng thị trường.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cũng đang phối hợp với các sở, ngành, địa phương rà soát nhu cầu và hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn, chính sách hỗ trợ.
Những vướng mắc về thủ tục đầu tư, mặt bằng sản xuất, nguồn vốn, công nghệ và liên kết vùng nguyên liệu được tổng hợp để đề xuất giải pháp tháo gỡ.
Đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng giá trị nông sản
Cùng với chế biến, chuyển đổi số đang trở thành một phần quan trọng trong quá trình hoàn thiện chuỗi giá trị nông sản.
Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, quy trình sản xuất và chất lượng thực phẩm, khả năng truy xuất thông tin có thể trở thành một yếu tố tạo dựng niềm tin và nâng sức cạnh tranh của sản phẩm.
Công nghệ số cũng giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn vùng nguyên liệu, sản lượng, chất lượng, quá trình chế biến và hệ thống phân phối. Đây là nền tảng để từng bước hình thành những chuỗi sản xuất minh bạch, đáp ứng yêu cầu của thị trường hiện đại.
Trong bối cảnh nông sản ngày càng phải cạnh tranh bằng chất lượng thay vì chỉ bằng sản lượng và giá bán, chế biến sâu còn góp phần giải quyết một điểm nghẽn lâu nay của sản xuất nông nghiệp: áp lực tiêu thụ vào chính vụ.
Thay vì phải đưa toàn bộ nông sản tươi ra thị trường trong thời gian ngắn, chế biến có thể kéo dài thời gian bảo quản, tạo thêm nhiều dòng sản phẩm và mở rộng không gian tiêu thụ.
Một quả cam không chỉ được bán dưới dạng quả tươi mà có thể trở thành nước ép; chuối có thể được sấy; rau, củ trở thành gia vị hoặc thực phẩm chế biến; sản phẩm chăn nuôi có thể được đưa vào những dòng thực phẩm tiện lợi có thời gian bảo quản dài hơn.
Mỗi bước chế biến là một cơ hội để giữ lại thêm giá trị cho nông sản.
Từ bán nguyên liệu đến xây dựng kinh tế nông nghiệp
Hà Nội có lợi thế là một trong những thị trường tiêu dùng lớn, đồng thời là đầu mối giao thương và có mạng lưới liên kết với nhiều vùng sản xuất trong cả nước. Đây là điều kiện thuận lợi để thành phố phát triển vai trò trung tâm chế biến, phân phối và kết nối thị trường cho nông sản.
Nhưng để biến lợi thế thành giá trị thực tế, bài toán không chỉ nằm ở số lượng nhà máy.
Vùng nguyên liệu ổn định, tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ bảo quản và chế biến, năng lực quản trị, chuyển đổi số, thị trường tiêu thụ và sự liên kết giữa các chủ thể phải được phát triển đồng bộ.
Khi những mắt xích này được kết nối, chế biến sâu có thể trở thành cầu nối giữa sản xuất và thị trường, giúp người nông dân có đầu ra ổn định hơn, doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu và người tiêu dùng có thêm những sản phẩm chất lượng, tiện lợi, minh bạch về nguồn gốc.
Từ nông sản thô đến sản phẩm có giá trị gia tăng vì thế không chỉ là sự thay đổi về hình thức của một sản phẩm. Đó còn là bước chuyển từ tư duy “sản xuất được bao nhiêu” sang “thị trường cần gì và có thể tạo thêm bao nhiêu giá trị từ nông sản”.
Đây cũng là hướng đi quan trọng để nông nghiệp Thủ đô phát triển theo chiều sâu, nâng cao sức cạnh tranh và từng bước hình thành nền nông nghiệp hiện đại, xanh, tuần hoàn và bền vững.
