Phú Thọ hình thành vùng dược liệu gắn với chế biến và xây dựng thương hiệu

Từ những cây thuốc dược liệu quen thuộc với núi rừng, người dân vùng núi Phú Thọ đang từng bước phát triển thành vùng nguyên liệu hàng hóa, gắn sản xuất với sơ chế, chế biến và xây dựng thương hiệu. Hướng đi này không chỉ góp phần khai thác lợi thế đất đồi, dưới tán rừng mà còn mở thêm sinh kế cho người dân địa phương.
Ba kích đang được người dân xã Đại Đình phát triển trên đất đồi, từng bước hình thành vùng nguyên liệu dược liệu tại địa phương. Ảnh TTXVN

Từ cây thuốc đến sinh kế

Tại xã Đại Đình, cây dược liệu đang trở thành một hướng chuyển đổi sản xuất của một số hộ dân trên những diện tích đất trước đây chủ yếu trồng sắn, ngô. Cùng với điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp, nguồn vốn và kỹ thuật sản xuất đang giúp người dân từng bước thay đổi cách tiếp cận đối với cây dược liệu.

Gia đình ông Nguyễn Văn Tình, thôn Đồng Bụt là một trong những hộ đi đầu. Trên hơn 1 ha đất đồi rừng, ông đang duy trì khoảng 2 vạn gốc ba kích, cho thu nhập gần 1 tỷ đồng mỗi kỳ thu hoạch.

Trước đây, gia đình ông chủ yếu trồng sắn, ngô. Theo ông Tình, những loại cây này đòi hỏi nhiều công chăm sóc nhưng hiệu quả kinh tế không cao, trong khi đất đai có dấu hiệu bạc màu. Để tìm hướng sản xuất mới, ông chủ động tham quan, học hỏi các mô hình trồng dược liệu tại Bắc Giang, Quảng Ninh. Nhận thấy ba kích phù hợp với điều kiện đất đồi tại địa phương, ông đưa cây về trồng thử rồi từng bước mở rộng diện tích.

Không chỉ có mô hình của ông Tình, anh Trần Tiến Đại ở khu Chùa Bồi cũng chuyển đổi 7.000 m² đất trồng sắn, ngô sang trồng ba kích tím. Với nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, anh đầu tư cây giống, cải tạo đất và học hỏi kỹ thuật chăm sóc.

Sau giai đoạn đầu còn nhiều khó khăn, mô hình dần ổn định. Ba kích được thu hoạch theo chu kỳ 2-3 năm/lần, mỗi lần cho doanh thu khoảng 500-700 triệu đồng, theo chia sẻ của anh Đại.

“Trước kia làm sắn, ngô rất vất vả mà thu nhập thấp. Khi được vay vốn ưu đãi, tôi mạnh dạn chuyển đổi sản xuất. Ban đầu cũng gặp khó khăn, nhưng nhờ chịu khó học hỏi kỹ thuật nên mô hình dần ổn định và cho hiệu quả kinh tế cao”, anh Đại chia sẻ.

Từ những mô hình của các hộ dân, cây ba kích đang từng bước hình thành vùng sản xuất tại Đại Đình. Toàn xã hiện có khoảng 20 hộ trồng ba kích với hơn 15 ha, bao gồm cả diện tích ươm giống, nhân giống và trồng cây thương phẩm.

Việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung không chỉ tạo điều kiện mở rộng sản xuất mà còn giúp các hộ dân có cơ sở để liên kết trong khâu giống, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, các mô hình dược liệu cũng tạo thêm việc làm cho lao động tại địa phương.

Nâng giá trị cây bản địa bằng chế biến

Nếu ba kích đang mở ra hướng sản xuất mới trên đất đồi, trà hoa vàng lại cho thấy giá trị của việc phát triển cây bản địa gắn với chế biến và xây dựng thương hiệu.

Sinh ra và lớn lên dưới chân núi Tam Đảo, chị Lưu Thị Tám, xã Đại Đình, đã biết đến trà hoa vàng từ nhỏ. Loài cây từng mọc tự nhiên trong rừng và vườn nhà, được người dân địa phương sử dụng như một loại dược liệu, đang từng bước được phát triển thành sản phẩm hàng hóa.

Từ năm 2013, chị Tám bắt đầu đầu tư trồng, nhân giống và nghiên cứu chế biến trà hoa vàng theo hướng ứng dụng khoa học, kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến năm 2017, chị thành lập Hợp tác xã Trà hoa vàng Long Thanh với 7 thành viên, từng bước xây dựng chuỗi sản xuất từ cây giống, vùng nguyên liệu đến sơ chế, chế biến.

Quảng cáo

Hiện gia đình chị Tám duy trì gần 1 ha trà hoa vàng với khoảng 1.000 cây đang cho thu hoạch. Cùng với phát triển vùng nguyên liệu của gia đình, chị liên kết với các hộ dân trong xã, cung cấp cây giống, phân bón và hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc. Qua đó, vùng nguyên liệu được mở rộng và thêm nhiều hộ dân có cơ hội tham gia vào chuỗi sản xuất.

Sau khi thu hái, hoa trà được đưa về hợp tác xã để sơ chế, chế biến. Theo thông tin của cơ sở, hoa tươi được thu mua với giá khoảng 500.000 đồng/kg, trong khi trà hoa vàng khô có giá từ 12-13 triệu đồng/kg.

Bình quân mỗi năm, hợp tác xã cung ứng khoảng 300 kg hoa tươi và 15-20 kg trà hoa vàng sấy khô ra thị trường.

Sự khác biệt về giá trị giữa nguyên liệu tươi và sản phẩm đã qua chế biến cho thấy vai trò của khâu sau thu hoạch trong việc nâng giá trị cây dược liệu. Thay vì chỉ bán nguyên liệu, việc đầu tư sơ chế, sấy, đóng gói và xây dựng thương hiệu giúp sản phẩm có thêm giá trị gia tăng và khả năng tiếp cận thị trường rõ ràng hơn.

Từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, hợp tác xã phát triển thương hiệu Trà hoa vàng Hoàng Long với nhiều dòng sản phẩm như Kim hoa trà, Trà hoa vàng Tam Đảo, Trà hoa vàng lá dày, hải đường vàng...

Năm 2023, sản phẩm Trà hoa vàng Long Thanh của hợp tác xã được công nhận OCOP 3 sao. Đây là một bước trong quá trình đưa cây bản địa từ sản xuất nhỏ lẻ thành sản phẩm hàng hóa có nhận diện và thương hiệu.

Mô hình trồng cây ba kích của gia đình ông Nguyễn Văn Tình tại xã Đại Đình, tỉnh Phú Thọ. Ảnh TTXVN

Hướng tới vùng dược liệu gắn với chế biến sâu

Từ những mô hình sản xuất cụ thể, định hướng phát triển dược liệu của Phú Thọ đang hướng tới quy mô lớn hơn, trong đó chú trọng mối liên kết giữa vùng nguyên liệu với bảo tồn nguồn gen, chế biến và phát triển sản phẩm.

Theo định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, Phú Thọ phấn đấu hình thành khoảng 8.000 ha vùng dược liệu gắn với bảo tồn nguồn gen, chế biến sâu và phát triển du lịch trải nghiệm.

Tại những khu vực có điều kiện phù hợp, địa phương định hướng xây dựng vùng dược liệu tập trung, chú trọng mô hình trồng dưới tán rừng và sản xuất theo hướng hữu cơ. Cùng với đó là tăng cường liên kết giữa vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm.

Các loại dược liệu được định hướng ưu tiên phát triển gồm cà gai leo, trà hoa vàng, sa nhân, hà thủ ô, đương quy, giảo cổ lam, xạ đen, ba kích, linh chi, khôi nhung, gừng và nghệ.

Điểm đáng chú ý trong định hướng này là phát triển dược liệu không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích trồng. Cùng với vùng nguyên liệu, địa phương đặt trọng tâm vào chất lượng sản phẩm, hoàn thiện quy trình sản xuất, tăng cường chứng nhận chất lượng, phát triển thương hiệu và thúc đẩy chế biến sâu.

Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng nâng giá trị của cây dược liệu. Khi người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cùng tham gia vào chuỗi, từ sản xuất giống, hình thành vùng nguyên liệu đến thu hái, sơ chế, chế biến và tiêu thụ, giá trị tạo ra trên cùng một đơn vị diện tích có thể được nâng lên thay vì chỉ phụ thuộc vào việc bán nguyên liệu thô.

Từ ba kích trên đất đồi đến trà hoa vàng dưới chân núi Tam Đảo, những mô hình tại Đại Đình đang cho thấy tiềm năng của việc khai thác cây dược liệu theo hướng hàng hóa. Việc gắn vùng nguyên liệu với chế biến và thương hiệu sẽ là cơ sở để địa phương nâng giá trị sản phẩm, mở rộng sinh kế cho người dân và từng bước phát huy lợi thế dược liệu bản địa theo hướng lâu dài.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm