Đà Nẵng định hướng phát triển vùng nông nghiệp hữu cơ tập trung

Từ việc khoanh định khu vực sản xuất đến xây dựng chuỗi giá trị gắn với thị trường và du lịch, Đà Nẵng đang từng bước định hình hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ theo quy mô tập trung, qua đó nâng chất lượng nông sản và gia tăng giá trị trên cùng một diện tích đất.
Không gian sản xuất nông nghiệp kết hợp trải nghiệm du lịch tại Đà Nẵng, thể hiện hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ và kinh tế nông thôn đa giá trị. Ảnh internet

Tạo nền tảng cho vùng sản xuất hữu cơ tập trung

Đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035” được UBND thành phố ban hành tại Quyết định số 1169/QĐ-UBND ngày 2/4/2026, là cơ sở để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường, sinh thái và phát triển lâu dài.

Cụ thể hóa đề án, ngày 18/6/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng ban hành Kế hoạch số 83/KH-SNNMT.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vũ Thị Bích Hậu, Đà Nẵng có nhiều điều kiện để phát triển nông nghiệp hữu cơ, trong đó đáng chú ý là thị trường tiêu thụ tại khu vực đô thị và sự phát triển của du lịch. Nhu cầu sử dụng thực phẩm an toàn của người dân, nhà hàng, khách sạn, trường học cùng nhu cầu tham quan, trải nghiệm của du khách có thể tạo thêm đầu ra cho nông sản hữu cơ.

Theo hướng này, các cánh đồng, khu vườn và làng rau không chỉ được khai thác để cung cấp nông sản mà còn có thể trở thành không gian trải nghiệm trong các chương trình du lịch. Sản phẩm từ vùng sản xuất có thêm cơ hội kết nối với hệ thống phân phối, dịch vụ ăn uống và trực tiếp với du khách.

Bà Vũ Thị Bích Hậu cho rằng, nếu được tổ chức hợp lý, một diện tích đất nông nghiệp có thể tạo ra nhiều dòng giá trị, từ sản phẩm thu hoạch đến dịch vụ tham quan, trải nghiệm, ẩm thực và các giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương.

Trong năm 2026, ngành nông nghiệp thành phố phối hợp với các địa phương rà soát, nhận diện và khoanh định những khu vực có khả năng sản xuất hữu cơ. Cùng với đó là kiểm tra, đánh giá các yếu tố về đất đai, nguồn nước và môi trường để từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung.

Đà Nẵng cũng định hướng phát triển nhóm nông sản chủ lực có chất lượng cao, đồng thời đưa sản xuất nông nghiệp trở thành một thành tố của du lịch trải nghiệm ở khu vực nông thôn. Các nhóm cây trồng được định hướng chuyển đổi và phát triển theo phương thức hữu cơ gồm lúa, rau đậu, cây ăn quả, một số cây công nghiệp như chè, hồ tiêu, cau và nhóm cây dược liệu, trong đó có sâm Ngọc Linh.

Để khuyến khích người dân và các đơn vị đầu tư, tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất hữu cơ được tiếp cận chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND thành phố về hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2026 - 2030.

Du khách tham quan trải nghiệm chăm sóc rau hữu cơ tại HTX Rau hữu cơ và Du lịch Thanh Đông phường Hội An Đông. Ảnh: Xuân Sơn

Từ mô hình sản xuất đến liên kết chuỗi

Trên thực tế, một số mô hình sản xuất hữu cơ đã được triển khai tại các địa phương trước thời điểm đề án được thực hiện. Đây là cơ sở để thành phố tiếp tục nghiên cứu mở rộng quy mô, thống nhất quy trình kỹ thuật và từng bước xây dựng thương hiệu cho nông sản hữu cơ.

Tại thôn Bích Tân, xã Tam Xuân, HTX Nông nghiệp hữu cơ Nông trại xanh hiện duy trì 2ha rau hữu cơ theo hướng tuần hoàn. Khu sản xuất được đầu tư hệ thống nhà màng, nhà kính, kết hợp tưới phun mưa và kiểm soát nhiệt độ.

Mỗi năm, mô hình cho sản lượng khoảng 200 tấn rau, trong đó phần lớn được đưa vào hệ thống siêu thị tiêu thụ.

Trong khi đó, tại phường Hội An Tây, HTX Sản xuất và Kinh doanh rau Trà Quế Xanh tổ chức sản xuất trên diện tích hơn 18,5ha, kết hợp canh tác rau với du lịch sinh thái trải nghiệm.

Làng rau đã thành lập Tổ du lịch cộng đồng để đưa du khách trực tiếp tham gia các hoạt động như làm đất, cấy và chăm sóc rau. Theo đại diện HTX, khi số lượng hộ sản xuất ngày càng tăng, việc thống nhất quy trình giữa các hộ trở thành yếu tố quan trọng để duy trì chất lượng sản phẩm.

Vì vậy, HTX không chỉ tổ chức sản xuất mà còn thực hiện vai trò kiểm soát chất lượng, đưa các hộ vào cùng một chuỗi giá trị. Cách làm này hướng tới sự đồng đều về sản phẩm, tiết giảm chi phí và nâng cao giá trị nông sản.

Quảng cáo

Gắn nông nghiệp với trải nghiệm du lịch

Bên cạnh việc hình thành vùng sản xuất, một hướng đi đang được các địa phương quan tâm là khai thác giá trị của cảnh quan, văn hóa và không gian nông nghiệp để tạo thêm nguồn thu.

Tại xã Nông Sơn, Chủ tịch UBND xã Lý Xuân Phong cho biết địa phương có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại kết hợp du lịch sinh thái. Hiện toàn xã có hơn 40ha cây ăn quả với nhiều loại như bưởi trụ Đại Bình, bưởi da xanh, măng cụt và sầu riêng.

Tại làng Đại Bình, khu vườn của bà Phan Thị Hỷ là một trong những mô hình sớm kết hợp sản xuất cây ăn quả với du lịch cộng đồng. Trên diện tích khoảng 5.000m2, gia đình bà từng quy hoạch khoảng 200 cây ăn quả gồm bưởi trụ lông Đại Bình, sầu riêng, măng cụt, bòn bon, chôm chôm…

Qua thời gian, một số cây đã già cỗi, năng suất giảm nên được thay thế bằng những giống cây ăn quả phù hợp với địa phương. Việc cải tạo vừa duy trì hiệu quả sản xuất, vừa tạo thêm không gian cho hoạt động tham quan.

Hiện khu vườn còn khoảng 80 cây ăn quả đang cho thu hoạch, mang lại nguồn thu bình quân khoảng 50 triệu đồng mỗi năm. Gia đình bà Hỷ tiếp tục chỉnh trang cảnh quan theo hướng xanh, sạch và gần gũi với khách tham quan.

Không chỉ tại Nông Sơn, Tiên Phước cũng đang tìm cách gia tăng giá trị sản xuất nông nghiệp thông qua việc kết hợp không gian vườn với cảnh quan, văn hóa và hoạt động trải nghiệm.

Theo Chủ tịch UBND xã Tiên Phước Nguyễn Hùng Anh, địa phương còn nhiều ngôi nhà cổ và nghề truyền thống gắn với đời sống kinh tế vườn. Đây là những yếu tố có thể bổ trợ cho việc hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng.

Một số khu vực như Hố Quờn, Đồng Cây Dừa, Ao Cá được đánh giá có tiềm năng phát triển du lịch nhờ cảnh quan tự nhiên và hệ sinh thái vườn. Bên cạnh đó, một số nhà vườn đã đủ điều kiện để đón khách tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm.

Những lợi thế này tạo cơ sở để Tiên Phước phát triển các sản phẩm du lịch dựa trên không gian vườn, giúp người dân có thêm nguồn thu từ diện tích đất sản xuất thay vì chỉ phụ thuộc vào việc bán nông sản.

Tháng 7/2026, UBND xã Tiên Phước ban hành Đề án phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế vườn, kinh tế trang trại gắn với du lịch sinh thái trên địa bàn xã giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035.

Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, địa phương phấn đấu đưa thu nhập bình quân từ kinh tế vườn và kinh tế trang trại lên khoảng 200 triệu đồng/ha, tương đương khoảng 50% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Diện tích vườn dự kiến tăng lên 2.200ha; ít nhất 200 vườn mẫu gắn với xếp hạng sao được xây dựng, cùng với 5 trang trại đạt tiêu chí. Tiên Phước cũng dự kiến phát triển thêm khoảng 20 sản phẩm OCOP, nâng tổng số sản phẩm lên khoảng 38.

Ông Nguyễn Hùng Anh cho biết, Tiên Phước hiện có hơn 1.700ha vườn, trong đó hàng trăm mô hình đã được đầu tư, cùng hệ thống cây đặc sản mang đặc trưng riêng của vùng đất. Việc gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị diện tích, xây dựng thương hiệu cho nông sản và kết nối các khu vườn với hoạt động du lịch sinh thái được kỳ vọng sẽ giúp địa phương phát huy tốt hơn những lợi thế sẵn có, đồng thời tạo thêm sinh kế cho người dân.

Khu vườn cây ăn quả tại làng Đại Bình, xã Nông Sơn, thành phố Đà Nẵng, gắn sản xuất nông nghiệp với hoạt động tham quan, trải nghiệm.

Hướng tới chuỗi giá trị nông nghiệp hữu cơ

Từ các chính sách và mô hình đang được triển khai, định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ của Đà Nẵng đang được đặt trong mối liên kết rộng hơn giữa sản xuất, thị trường và dịch vụ nông thôn.

Trong đó, việc rà soát, khoanh định vùng sản xuất là bước quan trọng để từng bước tổ chức sản xuất theo hướng tập trung. Khi các hộ cùng tham gia một chuỗi, yêu cầu về quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và tính đồng đều của sản phẩm cũng được đặt ra rõ hơn.

Ở chiều ngược lại, việc kết hợp nông nghiệp với cảnh quan, văn hóa và du lịch mở thêm hướng gia tăng giá trị cho sản phẩm và diện tích đất sản xuất. Đây cũng là cơ sở để các địa phương khai thác tốt hơn lợi thế của từng vùng, từng sản phẩm thay vì chỉ tập trung vào giá trị thu được từ hoạt động canh tác.

Với cách tiếp cận này, nông nghiệp hữu cơ không chỉ được nhìn nhận ở phương thức sản xuất mà còn gắn với tổ chức vùng nguyên liệu, liên kết chuỗi và thị trường tiêu thụ. Đây là hướng đi có thể tạo nền tảng để Đà Nẵng từng bước nâng chất lượng nông sản, gia tăng giá trị và phát huy thêm tiềm năng của khu vực nông thôn.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm