Hợp đồng giúp hình thành vùng nguyên liệu
Hợp đồng sản xuất – tiêu thụ là một cách doanh nghiệp tổ chức vùng nguyên liệu mà không trực tiếp sở hữu toàn bộ diện tích sản xuất. Các bên có thể thỏa thuận về giống, quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, phương thức thu mua và những điều kiện liên quan. Với cách làm này, người sản xuất có cơ sở tổ chức sản xuất theo yêu cầu của doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp có thêm cơ sở xây dựng vùng nguyên liệu phù hợp với nhu cầu chế biến.
Một ví dụ mới tại Nghệ An là Công ty Cổ phần Thực phẩm Xuất khẩu Đồng Giao (Doveco) ký hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ dứa với xã Giai Xuân. Theo thông tin được công bố, năm 2026 địa phương triển khai trồng mới khoảng 300 ha dứa theo liên kết; mục tiêu đến năm 2030 mở rộng vùng nguyên liệu dứa tại Giai Xuân lên khoảng 2.000 ha. Doanh nghiệp hỗ trợ giống, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua sản phẩm theo các điều kiện đã thỏa thuận.
Quy mô được triển khai theo từng giai đoạn cho thấy hợp đồng liên kết có thể được sử dụng để từng bước mở rộng vùng nguyên liệu. Với doanh nghiệp chế biến, việc hình thành vùng sản xuất tập trung cũng tạo điều kiện để chủ động hơn về nguyên liệu và yêu cầu chất lượng, trong khi người sản xuất có thêm cơ sở xác định đầu ra theo thỏa thuận với doanh nghiệp.
![]()
Kinh nghiệm góp đất từ mô hình cao su Sơn La
Ở mức độ tham gia khác, từng có cơ chế thí điểm cho phép hộ nông dân góp vốn cổ phần bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để hợp tác đầu tư phát triển cao su. Đây là cách tiếp cận khác với hợp đồng sản xuất – tiêu thụ thông thường, khi quyền lợi và sự tham gia của người dân được gắn với một dự án theo cơ chế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Tại Sơn La, mô hình này được triển khai trong dự án phát triển cây cao su. Theo số liệu được công bố, đến năm 2020 có 6.923 hộ góp khoảng 5.879 ha đất. Công ty Cổ phần Cao su Sơn La là doanh nghiệp gắn với quá trình triển khai mô hình này.
Tuy nhiên, đây là kinh nghiệm chính sách trong quá khứ, không phải cơ chế hiện hành có thể áp dụng nguyên trạng. Quyết định số 990/QĐ-TTg về thí điểm cho hộ nông dân góp vốn cổ phần bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để đầu tư phát triển cao su đã được dừng thực hiện theo Quyết định số 1708/QĐ-TTg ngày 28/12/2023. Vì vậy, giá trị tham khảo của trường hợp Sơn La nằm ở cách thiết kế sự tham gia của người dân vào dự án và cơ chế phân chia kết quả, không phải ở việc sao chép cơ chế pháp lý đã được thí điểm trước đây.
Theo thông tin được công bố, năm 2025 Công ty Cổ phần Cao su Sơn La chia sản phẩm cho các hộ dân góp đất với tổng giá trị hơn 11,3 tỷ đồng. Cùng năm, doanh nghiệp quản lý trên 6.038 ha cao su và khai thác hơn 3.907 tấn mủ. Những số liệu này phản ánh kết quả phân chia sản phẩm cho các hộ góp đất theo cơ chế hợp tác được hình thành từ dự án.
![]()
Chọn cấu trúc liên kết theo nguồn lực
Hai trường hợp trên cho thấy liên kết nông dân – doanh nghiệp có thể được tổ chức theo những cấu trúc khác nhau. Với hợp đồng sản xuất – tiêu thụ, doanh nghiệp có thể tập trung vào xây dựng vùng nguyên liệu, cung cấp đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua; người sản xuất tiếp tục tổ chức sản xuất trên diện tích của mình theo các điều kiện đã thống nhất.
Trong khi đó, việc đưa quyền sử dụng đất hoặc tài sản của người dân vào một cấu trúc góp vốn đòi hỏi cơ chế pháp lý, định giá, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định chặt chẽ. Kinh nghiệm từ dự án cao su Sơn La cho thấy khi người dân tham gia theo một cơ chế sâu hơn, yêu cầu về quản trị, phân chia kết quả và xử lý các vấn đề phát sinh cũng cần được thiết kế rõ ràng.
Đối với doanh nghiệp công nghiệp nông thôn, lựa chọn mô hình liên kết cần xuất phát từ đặc điểm vùng nguyên liệu, khả năng đầu tư và mức độ tham gia phù hợp của người sản xuất. Dù lựa chọn hợp đồng sản xuất – tiêu thụ hay các hình thức hợp tác, góp vốn phù hợp với pháp luật hiện hành, việc xác định rõ tiêu chuẩn sản phẩm, phương thức xác định giá, trách nhiệm của các bên và cơ chế chia sẻ rủi ro ngay từ đầu sẽ tạo cơ sở để chuỗi liên kết vận hành minh bạch và ổn định hơn.
