Đáng chú ý, theo đánh giá của Mirae Asset, các chính sách lần này không vận hành riêng lẻ mà được thiết kế như một “gói kích thích tổng lực”, hướng tới mục tiêu tăng trưởng có thể đạt khoảng 11,9% trong nửa cuối năm 2026 nếu các điều kiện thuận lợi được duy trì.

Các chính sách nới lỏng tiền tệ, đẩy mạnh đầu tư công và thu hút FDI đang tạo lực đẩy cho dòng vốn vào nền kinh tế.
Nới lỏng tiền tệ: Thêm “không gian” cho tín dụng
Một trong những thay đổi quan trọng nhất nằm ở định hướng mở rộng thanh khoản hệ thống ngân hàng, qua đó tạo thêm dư địa cho tín dụng tăng trưởng mạnh hơn trong giai đoạn tới. Theo Thông tư 25/2026/TT-NHNN, trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn (SFL) được nâng từ 30% lên 40%, đồng thời điều chỉnh cách tính LDR theo hướng loại trừ phần lớn tiền gửi Kho bạc Nhà nước.
Theo ước tính của Mirae Asset, các điều chỉnh này có thể giúp giải phóng khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng trong hệ thống ngân hàng, từ đó giảm áp lực chi phí vốn, hỗ trợ xu hướng giảm lãi suất cho vay và tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực ưu tiên tăng trưởng.
Tín dụng được định hướng vào nhóm ưu tiên
Song song với nới lỏng thanh khoản, dòng vốn tín dụng đang được định hướng mạnh vào các lĩnh vực mang tính động lực dài hạn. Theo Công văn 4551/NHNN-CSTT, tín dụng dành cho nhà ở xã hội và khu công nghiệp, khu chế xuất sẽ được loại khỏi giới hạn tăng trưởng tín dụng bất động sản năm 2026. Điều này giúp tháo gỡ đáng kể điểm nghẽn vốn cho các chương trình phát triển nhà ở xã hội và hạ tầng sản xuất, vốn đang có nhu cầu rất lớn.
Ở nhóm hạ tầng, theo Công văn 5386/NHNN-TD, có 18 dự án hạ tầng chiến lược được cấp tín dụng đặc thù với tổng nhu cầu vốn khoảng 752 nghìn tỷ đồng. Đáng chú ý, phần tín dụng này cũng được loại khỏi hạn mức tín dụng hàng năm, qua đó tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án trọng điểm và giảm độ trễ đầu tư.
Tài khóa và FDI: Kích cầu đồng thời cả ngắn và dài hạn
Bên cạnh chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ tổng cầu trong ngắn hạn. Theo đó, khoảng 125.000 tỷ đồng tiền thuế và tiền thuê đất được gia hạn, giúp hỗ trợ dòng tiền doanh nghiệp trong bối cảnh chi phí vốn còn cao.
Đồng thời, việc tăng lương cơ sở từ 01/07/2026 và đẩy nhanh giải ngân đầu tư công được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa đến tiêu dùng và đầu tư.
Ở tầm chiến lược dài hạn, Việt Nam tiếp tục định hướng thu hút FDI chất lượng cao theo Nghị quyết 10-NQ/TW, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học.
Cùng với đó, thị trường chứng khoán Việt Nam được kỳ vọng nâng hạng FTSE vào tháng 9/2026, qua đó có thể thu hút khoảng 742 triệu USD vốn ngoại thụ động theo ước tính của Mirae Asset, góp phần cải thiện thanh khoản thị trường.
Thị trường chứng khoán: Dòng tiền sẽ chảy vào đâu?
Theo phân tích của Mirae Asset, dòng vốn trên thị trường sẽ có xu hướng phân hóa rõ rệt theo hai giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, khi chính sách tiền tệ nới lỏng phát huy tác dụng, các nhóm hưởng lợi trực tiếp gồm ngân hàng, bất động sản khu công nghiệp và xây dựng – hạ tầng sẽ dẫn dắt dòng tiền.
Sang giai đoạn tiếp theo, khi chu kỳ kinh tế phục hồi rõ nét hơn, dòng vốn sẽ dịch chuyển sang các nhóm có tính chu kỳ và tăng trưởng cao hơn như chứng khoán (hưởng lợi từ thanh khoản và nâng hạng thị trường), công nghệ (FDI chất lượng cao), thép và vật liệu xây dựng, cùng với bán lẻ và tiêu dùng khi thu nhập người dân cải thiện.
Bất động sản khu công nghiệp là nhóm hưởng lợi rõ nhất khi các doanh nghiệp như Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC), IDICO (IDC), Sonadezi Châu Đức (SZC), Becamex IDC (BCM), Viglacera (VGC), SIP (Sonadezi Long Thành), Cao su Phước Hòa (PHR) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (GVR) được kỳ vọng hưởng lợi trực tiếp từ làn sóng FDI mới và chính sách mở rộng tín dụng.
Trong đó, Kinh Bắc (KBC) nổi bật nhờ khả năng đón dòng vốn FDI trong lĩnh vực bán dẫn, Viglacera (VGC) hưởng lợi kép từ khu công nghiệp và nhà ở xã hội, còn PHR và GVR được hỗ trợ từ xu hướng chuyển đổi đất cao su sang khu công nghiệp.
Nhóm ngân hàng được xem là nhóm dẫn dắt dòng tiền khi các ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank (VCB), VietinBank (CTG) và BIDV (BID) được hưởng lợi từ việc nới LDR và SFL, đồng thời có khả năng cao nằm trong rổ cổ phiếu FTSE sau nâng hạng.
Ở nhóm ngân hàng tư nhân, các ngân hàng như Techcombank (TCB), MB (MBB), VPBank (VPB), HDBank (HDB), TPBank (TPB), OCB, Sacombank (STB), ACB, LPBank (LPB) và SHB được kỳ vọng tăng trưởng tín dụng mạnh hơn, trong đó TCB và MBB nổi bật nhờ CASA cao giúp tối ưu chi phí vốn, còn nhóm VPB, HDB và TPB hưởng lợi từ tín dụng tiêu dùng.
Bất động sản nhà ở và nhà ở xã hội cũng được hưởng lợi từ xu hướng nới lỏng tín dụng và chính sách phát triển khi các doanh nghiệp như Hoàng Quân (HQC), Viglacera (VGC), Vinhomes (VHM), Khang Điền (KDH), Nam Long (NLG), An Gia (AGG), Vingroup (VIC), Vincom Retail (VRE) và Novaland (NVL) được kỳ vọng cải thiện hoạt động kinh doanh.
Trong đó, HQC là doanh nghiệp thuần nhà ở xã hội hưởng lợi trực tiếp từ chính sách, Vinhomes (VHM) có lợi thế quỹ đất lớn, còn KDH và NLG nhạy với xu hướng giảm lãi suất vay mua nhà.
Nhóm xây dựng, hạ tầng và vật liệu được kỳ vọng bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh từ nửa cuối năm 2026 khi các doanh nghiệp như Vinaconex (VCG), Coteccons (CTD), Fecon (FCN), PC1 Group (PC1), Đèo Cả (HHV), CII và HBC hưởng lợi từ độ trễ giải ngân đầu tư công.
Nhóm thép và vật liệu xây dựng cũng hưởng lợi từ chu kỳ xây dựng mới khi các doanh nghiệp như Hòa Phát (HPG), Hoa Sen (HSG), Nam Kim (NKG), Xi măng Hà Tiên 1 (HT1), BMP, NTP, DHA, KSB và VLB được hỗ trợ bởi nhu cầu xây dựng tăng trở lại. Trong đó, Hòa Phát (HPG) chiếm khoảng 65% thị phần thép HRC trong nước và tiếp tục hưởng lợi từ đầu tư công, khu công nghiệp và chính sách bảo hộ thuế nhập khẩu 27,83%.
