Cơ giới hóa giúp giảm chi phí, giảm phát thải
Trong quá trình triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030, cơ giới hóa được xem là động lực quan trọng để mở rộng quy mô sản xuất theo hướng hiện đại và bền vững.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), các quy trình canh tác, mô hình hợp tác xã và chuỗi liên kết trong vùng đang từng bước được hình thành. Tuy nhiên, để nhanh chóng mở rộng diện tích sản xuất, cần phát triển đồng bộ hệ thống máy móc, thiết bị cùng với ứng dụng công nghệ số, qua đó nâng cao năng lực tổ chức và quản lý sản xuất.
Cần Thơ là một trong những địa phương có vai trò quan trọng trong vùng, với sản lượng lúa đứng thứ hai tại ĐBSCL, chỉ sau An Giang. Trong thực hiện Đề án đến năm 2030, thành phố sẽ tham gia với diện tích trên 170.000 ha tại các xã, phường sản xuất lúa trọng điểm.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở NN&MT TP Cần Thơ, cho rằng trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, chi phí sản xuất tăng, lao động nông nghiệp thiếu hụt, trong khi các thị trường xuất khẩu liên tục nâng cao yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát thải carbon, ngành hàng lúa gạo không thể tiếp tục phát triển chủ yếu dựa vào việc tăng đầu vào vật tư và mở rộng diện tích.
Theo bà Giang, chuyển đổi sang mô hình sản xuất hiện đại, xanh và bền vững là yêu cầu tất yếu.
Thời gian qua, Cần Thơ đã triển khai nhiều mô hình cơ giới hóa tiên tiến gắn với nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải. Trong đó có các mô hình sạ hàng kết hợp vùi phân, cơ giới hóa xử lý rơm rạ, sử dụng máy cuốn rơm, sản xuất phân hữu cơ từ rơm và sử dụng máy tung phân hữu cơ trong canh tác lúa.
Những mô hình này bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần giảm chi phí sản xuất, hạn chế phát thải khí nhà kính và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Đây cũng được xem là nền tảng để ngành lúa gạo giảm chi phí, giảm phát thải, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị hạt gạo Việt Nam.
Cơ giới hóa phải đồng bộ trên toàn chuỗi
Trong bối cảnh chi phí vật tư đầu vào tăng, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và yêu cầu giảm phát thải từ các thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe, cơ giới hóa được xác định là giải pháp trọng tâm để nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, hạn chế tổn thất sau thu hoạch và thúc đẩy ngành hàng lúa gạo phát triển theo hướng hiện đại.
Ông Hồ Phi Tuấn, Trưởng phòng Cơ điện, Cục Kinh tế hợp tác, Bộ NN&MT, cho biết cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành hàng lúa gạo nói riêng đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Nhiều khâu như làm đất, bơm tưới, thu hoạch và vận chuyển đã được cơ giới hóa ở mức cao, góp phần giảm sức lao động, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
Tuy nhiên, cơ giới hóa nông nghiệp vẫn còn những hạn chế, khi phần lớn mới tập trung vào khâu làm đất và thu hoạch. Trong khi đó, các khâu gieo cấy, chăm sóc, bảo quản và chế biến sau thu hoạch còn yếu, thiếu tính đồng bộ.
Theo ông Hồ Phi Tuấn, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải phát triển cơ giới hóa đồng bộ trên toàn bộ chuỗi sản xuất, từ đó nâng cao hiệu quả, tăng sức cạnh tranh và đưa ngành hàng lúa gạo Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường quốc tế.
Tổ chức lại sản xuất để nâng giá trị hạt gạo
Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp theo Quyết định 1490 của Thủ tướng Chính phủ được xác định là khung định hướng quan trọng nhằm tổ chức lại sản xuất theo chuỗi liên kết, nâng cấp hạ tầng, đẩy mạnh cơ giới hóa và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa gắn với thích ứng biến đổi khí hậu.
Mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ cơ giới hóa đồng bộ trong vùng triển khai Đề án phải đạt trên 70% diện tích.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Bộ NN&MT đã tham mưu hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển cơ giới hóa, trong đó có việc sửa đổi quy định về sử dụng đất trồng lúa.
Bà Huỳnh Kim Định, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, cho biết Nghị định số 112 của Chính phủ tạo điều kiện để các hợp tác xã và tổ dịch vụ cơ giới hóa đầu tư hạ tầng ngay tại vùng nguyên liệu, qua đó nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất.
Các địa phương cần chủ động triển khai Nghị định, đồng thời rà soát cụ thể nhu cầu cơ giới hóa tại từng vùng nguyên liệu. Việc điều tra, thống kê hiện trạng máy móc và xác định nhu cầu đầu tư sẽ là cơ sở để hình thành các tổ dịch vụ cơ giới hóa chuyên nghiệp gắn với hợp tác xã.
Các tổ dịch vụ này có thể cung ứng nhiều khâu ngay tại địa phương, từ làm đất, gieo sạ, chăm sóc đến thu hoạch và bảo dưỡng máy móc, qua đó giúp nông dân tiếp cận dịch vụ cơ giới hóa thuận lợi hơn mà không nhất thiết phải tự đầu tư toàn bộ thiết bị.
Bên cạnh đó, các hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, xay xát lúa gạo cũng cần được khuyến khích đầu tư hệ thống sấy, kho bảo quản và trung tâm dịch vụ tại vùng nguyên liệu.
Đây là những mắt xích quan trọng nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, giữ chất lượng hạt lúa và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của chuỗi giá trị lúa gạo phục vụ xuất khẩu.
Từ giảm phát thải đến nâng giá trị hạt gạo Việt Nam
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp thời gian qua đã tập trung vào các giải pháp kỹ thuật canh tác và xây dựng quy trình sản xuất. Những giải pháp này bước đầu chứng minh hiệu quả trong việc giảm chi phí, nâng năng suất và gia tăng lợi nhuận cho người trồng lúa.
Ông Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, cho rằng cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số trong nông nghiệp là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, để quá trình này diễn ra nhanh hơn, cần có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy cơ giới hóa theo hướng đồng bộ, bền vững và đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại.
Thực tế cho thấy, cơ giới hóa không đơn thuần là đưa thêm máy móc vào đồng ruộng. Quan trọng hơn, đó là quá trình tổ chức lại sản xuất để sử dụng hiệu quả nguồn lực, giảm chi phí và tạo thêm giá trị cho hạt gạo.
Khi hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cơ quan quản lý cùng tham gia, cơ giới hóa có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị lúa gạo. Từ khâu sản xuất, thu hoạch, xử lý rơm rạ đến bảo quản và chế biến, mỗi công đoạn được kết nối đồng bộ sẽ góp phần giảm chi phí, giảm phát thải và nâng cao thu nhập cho người trồng lúa.
Đây cũng là nền tảng để ĐBSCL phát huy vai trò trung tâm sản xuất lúa gạo, nông sản chất lượng cao của cả nước, từng bước đáp ứng những tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế và hướng tới một nền nông nghiệp xanh, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
