Chiến lược quốc gia về AI: Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN năm 2030
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), với 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI và 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI. Đồng thời, Việt Nam phấn đấu hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI có năng lực cạnh tranh tại khu vực và quốc tế.
Chuyển từ ứng dụng AI sang chuyển đổi quốc gia bằng AI
Theo Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/8/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Một trong những điểm đáng chú ý của Chiến lược là định hướng chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.
Theo đó, AI không chỉ được bổ sung vào những sản phẩm, dịch vụ hay quy trình đang có, mà được xác định là năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành.
AI được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành những sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới.
Chiến lược xác định nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.
Đặt mục tiêu hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI Việt Nam
Chiến lược xác định phát triển nhân lực là yếu tố nền tảng đối với nghiên cứu, phát triển AI và quá trình chuyển đổi AI quốc gia.
Trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực AI chất lượng cao, đội ngũ nhân tài và chuyên gia AI; đồng thời đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng AI cho người lao động và phổ cập kỹ năng AI trong toàn xã hội.
Định hướng đào tạo cũng được chuyển từ việc trang bị những kỹ năng công nghệ đơn lẻ sang năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng AI.
Cùng với đó, Việt Nam sẽ chú trọng thu hút và trọng dụng chuyên gia AI hàng đầu, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.
Đối với khu vực doanh nghiệp, Chiến lược xác định doanh nghiệp AI Việt Nam là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi AI quốc gia.
Doanh nghiệp được khuyến khích chuyển từ việc tích hợp AI vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang xây dựng sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy AI làm nền tảng ngay từ đầu.
Định hướng này nhằm hình thành các doanh nghiệp vận hành dựa trên AI (AI-native) cùng hệ thống sản phẩm, nền tảng, dịch vụ và giải pháp AI Make in Viet Nam.
Mục tiêu đến năm 2030: AI hiện diện sâu trong quản trị và đời sống
Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI tại khu vực ASEAN và châu Á.
Việt Nam hướng tới hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI.
AI sẽ được tích hợp sâu vào quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội.
Trong đó, Chiến lược đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể:
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI.
100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI.
100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI.
Phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia.
Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI Việt Nam có năng lực cạnh tranh tại khu vực và quốc tế.
Phát triển tối thiểu 8 mô hình AI tiếng Việt.
Những mục tiêu này cho thấy AI được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong quá trình nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đến năm 2045, AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo
Tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia.
AI được kỳ vọng trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng kiến tạo giá trị quốc gia.
Qua đó, AI được xác định là một trong những động lực góp phần đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Theo định hướng này, AI sẽ trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.
Các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và những hệ thống hạ tầng quan trọng sẽ từng bước được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI.
Việt Nam cũng hướng tới hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI và doanh nghiệp AI-native có năng lực cạnh tranh ở khu vực và quốc tế, đồng thời trở thành một trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI quan trọng của khu vực và thế giới.
9 trụ cột của Chiến lược AI quốc gia
Quảng cáo
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược xác định 9 trụ cột trọng tâm.
1. Nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân
Phát triển nhân lực AI chất lượng cao, đồng thời phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội, bảo đảm lực lượng lao động có khả năng nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng AI.
2. Dữ liệu và mô hình AI
Phát triển dữ liệu, hạ tầng dữ liệu và các mô hình AI làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu, huấn luyện, kiểm thử, đánh giá và triển khai AI.
3. Hạ tầng AI
Đầu tư phát triển hạ tầng tính toán, điện toán đám mây, AI biên và trung tâm dữ liệu AI, bảo đảm năng lực tính toán phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI.
4. Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI
Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI, hình thành các sản phẩm, dịch vụ AI Make in Viet Nam và năng lực công nghệ lõi để giải quyết những bài toán lớn của đất nước.
5. AI trong quản trị quốc gia
Đẩy mạnh triển khai AI trong quản trị quốc gia, hướng tới nền quản trị hiện đại, chủ động và thích ứng nhanh; nâng cao chất lượng dịch vụ công, năng lực dự báo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
6. AI cho các ngành, lĩnh vực
Thúc đẩy chuyển đổi AI toàn diện trong các ngành, lĩnh vực; ưu tiên những lĩnh vực có tác động lớn đến năng suất, tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, an sinh xã hội và đời sống người dân.
7. AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận và triển khai các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI, đồng thời đo lường hiệu quả thực tế của quá trình ứng dụng.
8. Hệ sinh thái AI
Phát triển hệ sinh thái AI Việt Nam có năng lực nghiên cứu, phát triển, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI.
9. Quản trị AI an toàn, đáng tin cậy
Bảo đảm AI được phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng theo hướng an toàn, đáng tin cậy, có trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.
Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực để AI phát triển
Bên cạnh 9 trụ cột, Chiến lược đưa ra các nhóm giải pháp đột phá nhằm tạo điều kiện để AI phát triển nhanh và được ứng dụng hiệu quả trong đời sống kinh tế - xã hội.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật, tạo hành lang pháp lý phù hợp để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ chuyển đổi AI được giao.
Việc kiểm tra, đánh giá và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược cũng được xác định là nhiệm vụ thường xuyên.
Về nguồn lực, Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ theo hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu.
Đồng thời, Chiến lược khuyến khích hợp tác công - tư, thu hút các quỹ đầu tư quốc tế và nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất cho hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý AI.
Các cơ chế ưu đãi thuế đối với hoạt động AI cũng được đặt ra để nghiên cứu, hoàn thiện.
Mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm
Hợp tác quốc tế được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực AI của Việt Nam.
Chiến lược định hướng xây dựng các chương trình hợp tác AI song phương, đa phương với các quốc gia phát triển và tổ chức quốc tế; đồng thời thiết lập chương trình trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư và nhà khoa học AI giữa Việt Nam với các trung tâm nghiên cứu, phát triển AI hàng đầu thế giới.
Cùng với phát triển công nghệ, Việt Nam cũng chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm.
Việc đo lường và giám sát cũng được đặt ra thông qua xây dựng, ban hành và định kỳ cập nhật các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi AI của bộ, ngành, địa phương và quốc gia, phù hợp với điều kiện thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Từ việc xem AI là một công cụ hỗ trợ, Chiến lược mới đặt AI vào vị trí của một năng lực nền tảng cho quá trình phát triển quốc gia. Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 vì vậy không chỉ nằm ở số lượng công nghệ hay doanh nghiệp AI được hình thành, mà còn ở khả năng đưa AI vào quản trị, sản xuất, kinh doanh và đời sống một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm.
Nâng cấp ảnh này lên chất lượng cao nhất và hợp lý nhất có thể. Làm sắc nét từng chi tiết, tăng độ phân giải, khử nhiễu hoàn toàn. Giữ nguyên màu sắc và ánh sáng tự nhiên, không làm ảnh trông giả hay quá xử lý.
Nâng cấp ảnh này lên chất lượng cao nhất và hợp lý nhất có thể. Làm sắc nét từng chi tiết, tăng độ phân giải, khử nhiễu hoàn toàn. Giữ nguyên màu sắc và ánh sáng tự nhiên, không làm ảnh trông giả hay quá xử lý.
dựa vào nội dung trong ảnh tạo giúp tôi biểu đồ mới
dựa vào nội dung trong ảnh tạo giúp tôi biểu đồ mới
tạo ảnh đại diện cho bài viết giúp tôi
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI. 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI. 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI. Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.
**Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI Việt Nam **
Theo Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/8/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).
Quan điểm của Chiến lược là chuyển từ tư duy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) sang nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI (chuyển đổi AI quốc gia). Chuyển mạnh từ cách tiếp cận đưa AI vào sản phẩm, dịch vụ, quy trình và hệ thống sang lấy AI làm năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành.
AI trở thành động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; thúc đẩy tăng năng suất, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và hình thành các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới. Lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng; lấy thể chế và quản trị AI làm đột phá.
Phát triển nhân lực là nền tảng quyết định đối với nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi AI quốc gia. Tập trung phát triển nguồn nhân lực AI chất lượng cao, nhân tài AI, nhân lực tinh hoa AI; đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng AI cho lực lượng lao động; phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội; chuyển mạnh từ đào tạo kỹ năng công nghệ đơn lẻ sang đào tạo năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng AI; thu hút, trọng dụng chuyên gia AI hàng đầu, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia là người nước ngoài.
Doanh nghiệp AI Việt Nam là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi AI quốc gia. Khuyến khích doanh nghiệp chuyển từ tích hợp thêm AI vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang thiết kế sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy AI làm nền tảng ngay từ đầu; phát triển doanh nghiệp vận hành dựa trên AI (Al-native) và các sản phẩm, nền tảng, dịch vụ, giải pháp AI "Make in Viet Nam"...
Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2030, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong khu vực ASEAN và châu Á; hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI.
AI trở thành năng lực cốt lõi, được tích hợp sâu, toàn diện vào hoạt động quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội; góp phần quan trọng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, mô hình tăng trưởng mới.
**Chiến lược phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI. 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI. 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI. **
Phát triển tối thiểu 05 nền tảng AI dùng chung quốc gia; hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI của Việt Nam có năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế; phát triển tối thiểu 08 mô hình AI tiếng Việt...
Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực kiến tạo giá trị quốc gia; đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Việt Nam hoàn thành bước chuyển căn bản các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và hệ thống hạ tầng quan trọng được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI.
Việt Nam hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI, doanh nghiệp AI-native có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế và trở thành trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI quan trọng của khu vực và toàn cầu.
9 trụ cột chiến lược
Quyết định đưa ra 9 trụ cột chiến lược. Thứ nhất, nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân: Phát triển nhân lực AI chất lượng cao, phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội, bảo đảm lực lượng lao động có năng lực nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng AI.
Thứ hai, dữ liệu, mô hình AI: Phát triển dữ liệu, hạ tầng dữ liệu và mô hình AI làm nền tảng cho nghiên cứu, phát triển, huấn luyện, kiểm thử, đánh giá và triển khai AI.
Thứ ba, hạ tầng AI: Phát triển hạ tầng tính toán, điện toán đám mây, AI biên và trung tâm dữ liệu AI, bảo đảm năng lực tính toán phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và triển khai AI.
Thứ tư, nghiên cứu, phát triển AI và làm chủ công nghệ AI: Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI, hình thành sản phẩm, dịch vụ AI Make in Viet Nam và năng lực công nghệ lõi phục vụ các bài toán lớn của đất nước.
Thứ năm, AI trong quản trị quốc gia: Phát triển, triển khai và sử dụng AI trong quản trị quốc gia nhằm xây dựng nền quản trị hiện đại, chủ động, thích ứng nhanh trong kỷ nguyên AI; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, chất lượng cung cấp dịch vụ công, năng lực dự báo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ sau, AI cho các ngành, lĩnh vực: Thúc đẩy chuyển đổi AI toàn diện trong các ngành, lĩnh vực; tập trung phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm có tác động lớn đến năng suất, tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, an sinh xã hội và đời sống người dân.
Thứ bảy, AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã: Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận, triển khai, duy trì sử dụng sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI và đo lường hiệu quả thực tế.
Thứ tám, hệ sinh thái AI: Phát triển hệ sinh thái AI Việt Nam có năng lực nghiên cứu, phát triển, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI.
Thứ chính, quản trị AI an toàn, đáng tin cậy: Quản trị AI an toàn, đáng tin cậy, có trách nhiệm, bảo đảm AI được phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng theo quy định pháp luật.
Chiến lược đưua ra các giải pháp đột phá để thực hiện Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trong đó, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng nhằm phát triển nhanh và ứng dụng hiệu quả AI vào mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội;
Điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi, trong đó người đứng đầu bộ, ngành, địa phương trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyển đổi AI được giao; định kỳ kiểm tra, đánh giá, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược.
Huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí: Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Chiến lược cho Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ, đấu thầu thực hiện. Triển khai hình thức hợp tác công - tư và thu hút các quỹ đầu tư quốc tế để huy động thêm nguồn lực phục vụ nghiên cứu, phát triển và triển khai AI; nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý AI, cơ chế ưu đãi thuế đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo...
Hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; xây dựng chương trình hợp tác AI song phương, đa phương với các nước phát triển và tổ chức quốc tế; thiết lập chương trình trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư, nhà khoa học trong lĩnh vực AI giữa Việt Nam và các trung tâm nghiên cứu, phát triển AI hàng đầu thế giới.
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm;
Đo lường, giám sát, đánh giá: Xây dựng, ban hành và định kỳ rà soát, cập nhật các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi AI của bộ, ngành, địa phương và quốc gia phù hợp với Chiến lược, điều kiện thực tiễn và thông lệ quốc tế. Viết lại bài viết trên theo văn phong báo chí chuyên nghiệp kiểu báo điện tử, sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, logic mạch lạc và thu hút người đọc hơn. Đảm bảo giữ đúng nội dung gốc nhưng tăng tính thuyết phục và cảm xúc. thêm từ khóa chuẩn seo và mô tả ảnh cho bài.
Chiến lược quốc gia về AI: Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN năm 2030
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), với 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI và 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI. Đồng thời, Việt Nam phấn đấu hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI có năng lực cạnh tranh tại khu vực và quốc tế.
Chuyển từ ứng dụng AI sang chuyển đổi quốc gia bằng AI
Theo Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/8/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Một trong những điểm đáng chú ý của Chiến lược là định hướng chuyển mạnh từ tư duy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang nghiên cứu, phát triển AI và chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.
Theo đó, AI không chỉ được bổ sung vào những sản phẩm, dịch vụ hay quy trình đang có, mà được xác định là năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành.
AI được kỳ vọng trở thành động lực quan trọng để tái thiết kế phương thức quản trị, sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ; qua đó nâng cao năng suất, hiệu quả quản trị quốc gia, sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành những sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới.
Chiến lược xác định nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.
6
Đặt mục tiêu hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI Việt Nam
Chiến lược xác định phát triển nhân lực là yếu tố nền tảng đối với nghiên cứu, phát triển AI và quá trình chuyển đổi AI quốc gia.
Trọng tâm là phát triển nguồn nhân lực AI chất lượng cao, đội ngũ nhân tài và chuyên gia AI; đồng thời đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng AI cho người lao động và phổ cập kỹ năng AI trong toàn xã hội.
Định hướng đào tạo cũng được chuyển từ việc trang bị những kỹ năng công nghệ đơn lẻ sang năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ và giá trị thực tiễn bằng AI.
Cùng với đó, Việt Nam sẽ chú trọng thu hút và trọng dụng chuyên gia AI hàng đầu, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.
Đối với khu vực doanh nghiệp, Chiến lược xác định doanh nghiệp AI Việt Nam là lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, phát triển, triển khai và chuyển đổi AI quốc gia.
Doanh nghiệp được khuyến khích chuyển từ việc tích hợp AI vào sản phẩm, dịch vụ và quy trình hiện có sang xây dựng sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị lấy AI làm nền tảng ngay từ đầu.
Định hướng này nhằm hình thành các doanh nghiệp vận hành dựa trên AI (AI-native) cùng hệ thống sản phẩm, nền tảng, dịch vụ và giải pháp AI Make in Viet Nam.
Mục tiêu đến năm 2030: AI hiện diện sâu trong quản trị và đời sống
Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI tại khu vực ASEAN và châu Á.
Việt Nam hướng tới hình thành năng lực quốc gia mạnh về nghiên cứu, phát triển, làm chủ, triển khai và quản trị AI.
AI sẽ được tích hợp sâu vào quản trị quốc gia, cung cấp dịch vụ công, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đời sống xã hội.
Trong đó, Chiến lược đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể:
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI.
100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI.
100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI.
Phát triển tối thiểu 5 nền tảng AI dùng chung quốc gia.
Hình thành tối thiểu 10 thương hiệu AI Việt Nam có năng lực cạnh tranh tại khu vực và quốc tế.
Phát triển tối thiểu 8 mô hình AI tiếng Việt.
Những mục tiêu này cho thấy AI được đặt vào vị trí ngày càng quan trọng trong quá trình nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đến năm 2045, AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo
Tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về năng lực nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia.
AI được kỳ vọng trở thành động lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng kiến tạo giá trị quốc gia.
Qua đó, AI được xác định là một trong những động lực góp phần đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình, trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Theo định hướng này, AI sẽ trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.
Các thể chế, mô hình quản trị, quy trình nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ, phương thức sản xuất, kinh doanh và những hệ thống hạ tầng quan trọng sẽ từng bước được thiết kế, phát triển và vận hành trên nền tảng AI.
Việt Nam cũng hướng tới hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp AI và doanh nghiệp AI-native có năng lực cạnh tranh ở khu vực và quốc tế, đồng thời trở thành một trung tâm nghiên cứu, phát triển, sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI quan trọng của khu vực và thế giới.
9 trụ cột của Chiến lược AI quốc gia
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược xác định 9 trụ cột trọng tâm.
1. Nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân
Phát triển nhân lực AI chất lượng cao, đồng thời phổ cập kỹ năng AI cho toàn xã hội, bảo đảm lực lượng lao động có khả năng nghiên cứu, phát triển, triển khai và sử dụng AI.
2. Dữ liệu và mô hình AI
Phát triển dữ liệu, hạ tầng dữ liệu và các mô hình AI làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu, huấn luyện, kiểm thử, đánh giá và triển khai AI.
3. Hạ tầng AI
Đầu tư phát triển hạ tầng tính toán, điện toán đám mây, AI biên và trung tâm dữ liệu AI, bảo đảm năng lực tính toán phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI.
4. Nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI
Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI, hình thành các sản phẩm, dịch vụ AI Make in Viet Nam và năng lực công nghệ lõi để giải quyết những bài toán lớn của đất nước.
5. AI trong quản trị quốc gia
Đẩy mạnh triển khai AI trong quản trị quốc gia, hướng tới nền quản trị hiện đại, chủ động và thích ứng nhanh; nâng cao chất lượng dịch vụ công, năng lực dự báo, chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
6. AI cho các ngành, lĩnh vực
Thúc đẩy chuyển đổi AI toàn diện trong các ngành, lĩnh vực; ưu tiên những lĩnh vực có tác động lớn đến năng suất, tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, an sinh xã hội và đời sống người dân.
7. AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã tiếp cận và triển khai các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI, đồng thời đo lường hiệu quả thực tế của quá trình ứng dụng.
8. Hệ sinh thái AI
Phát triển hệ sinh thái AI Việt Nam có năng lực nghiên cứu, phát triển, thương mại hóa và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI.
9. Quản trị AI an toàn, đáng tin cậy
Bảo đảm AI được phát triển, cung cấp, triển khai và sử dụng theo hướng an toàn, đáng tin cậy, có trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.
Hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực để AI phát triển
Bên cạnh 9 trụ cột, Chiến lược đưa ra các nhóm giải pháp đột phá nhằm tạo điều kiện để AI phát triển nhanh và được ứng dụng hiệu quả trong đời sống kinh tế - xã hội.
Trước hết là hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật, tạo hành lang pháp lý phù hợp để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi. Người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ chuyển đổi AI được giao.
Việc kiểm tra, đánh giá và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai Chiến lược cũng được xác định là nhiệm vụ thường xuyên.
Về nguồn lực, Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ theo hình thức đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu.
Đồng thời, Chiến lược khuyến khích hợp tác công - tư, thu hút các quỹ đầu tư quốc tế và nghiên cứu cơ chế hỗ trợ lãi suất cho hoạt động nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và quản lý AI.
Các cơ chế ưu đãi thuế đối với hoạt động AI cũng được đặt ra để nghiên cứu, hoàn thiện.
Mở rộng hợp tác quốc tế, xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm
Hợp tác quốc tế được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực AI của Việt Nam.
Chiến lược định hướng xây dựng các chương trình hợp tác AI song phương, đa phương với các quốc gia phát triển và tổ chức quốc tế; đồng thời thiết lập chương trình trao đổi nghiên cứu sinh, kỹ sư và nhà khoa học AI giữa Việt Nam với các trung tâm nghiên cứu, phát triển AI hàng đầu thế giới.
Cùng với phát triển công nghệ, Việt Nam cũng chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức và xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm.
Việc đo lường và giám sát cũng được đặt ra thông qua xây dựng, ban hành và định kỳ cập nhật các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi AI của bộ, ngành, địa phương và quốc gia, phù hợp với điều kiện thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Từ việc xem AI là một công cụ hỗ trợ, Chiến lược mới đặt AI vào vị trí của một năng lực nền tảng cho quá trình phát triển quốc gia. Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 vì vậy không chỉ nằm ở số lượng công nghệ hay doanh nghiệp AI được hình thành, mà còn ở khả năng đưa AI vào quản trị, sản xuất, kinh doanh và đời sống một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm.
Bộ từ khóa SEO
Từ khóa chính:
Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo
Từ khóa phụ:
Chiến lược AI Việt Nam đến năm 2030
trí tuệ nhân tạo Việt Nam
AI Việt Nam
Chiến lược quốc gia về AI
mục tiêu AI Việt Nam 2030
AI đến năm 2045
phát triển trí tuệ nhân tạo
doanh nghiệp AI Việt Nam
thương hiệu AI Việt Nam
AI Make in Viet Nam
chuyển đổi AI quốc gia
ứng dụng AI trong dịch vụ công
AI trong quản trị quốc gia
9 trụ cột AI Việt Nam
phát triển nhân lực AI
Meta description chuẩn SEO
Chiến lược quốc gia về AI đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về nghiên cứu, phát triển AI và hình thành ít nhất 10 thương hiệu AI cạnh tranh quốc tế.
Gợi ý tiêu đề SEO
Chiến lược AI quốc gia: Việt Nam đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN năm 2030
Mô tả ảnh đại diện
Việt Nam đặt mục tiêu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, hướng tới trở thành một trong những trung tâm AI của khu vực ASEAN và châu Á.
Caption ảnh
AI được xác định là năng lực cốt lõi trong quá trình chuyển đổi quốc gia, từ quản trị, cung cấp dịch vụ công đến sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.