Giảm 50% thành phần hồ sơ cấp mã số vùng trồng, rút ngắn thời gian giải quyết

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ được kỳ vọng tạo bước chuyển quan trọng trong quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói khi cắt giảm 50% thành phần hồ sơ, đẩy mạnh xử lý thủ tục trên môi trường số và rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết. Đây được xem là động lực để thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, giảm chi phí cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Cắt giảm một nửa thành phần hồ sơ

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP (Nghị quyết số 36) quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết là đơn giản hóa mạnh thành phần hồ sơ, giảm đáng kể giấy tờ mà tổ chức, cá nhân phải chuẩn bị khi thực hiện thủ tục.

Theo đó, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hiện chỉ còn đơn đề nghị cấp mã số. Quy định này đồng nghĩa với việc bỏ bản thuyết minh mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo quy định trước đây tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP.

Như vậy, thành phần hồ sơ được cắt giảm 50%, trong khi nội dung đơn chỉ tập trung vào những thông tin tối thiểu, thực sự cần thiết cho quá trình xử lý.

Đặc biệt, tổ chức, cá nhân không phải nộp lại những giấy tờ, thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu và cơ quan quản lý có thể khai thác được. Đây là thay đổi có ý nghĩa thiết thực, giúp giảm thời gian chuẩn bị hồ sơ, hạn chế việc kê khai trùng lặp và từng bước chuyển từ quản lý bằng giấy tờ sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Cùng với đơn giản hóa hồ sơ, Nghị quyết số 36 quy định toàn bộ quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện trên môi trường số, thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Việc số hóa toàn bộ quy trình không chỉ giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thuận lợi hơn khi thực hiện thủ tục mà còn góp phần bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”, tăng tính minh bạch trong từng khâu của quá trình cấp và quản lý mã số.

Vùng trồng na tại Lạng Sơn được quản lý, kiểm soát theo yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao giá trị và khả năng tiêu thụ nông sản.

Rút ngắn thời gian, tăng trách nhiệm cho cấp xã

Một điểm mới quan trọng khác của Nghị quyết số 36 là phân cấp mạnh hơn cho chính quyền cơ sở.

Theo đó, Chủ tịch UBND cấp xã được giao thực hiện thủ tục cấp, cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; đồng thời thực hiện hậu kiểm, quản lý, thu hồi, tạm dừng hoặc khôi phục mã số theo quy định.

Việc đưa nhiệm vụ về cấp xã được kỳ vọng giúp rút ngắn khoảng cách giữa cơ quan quản lý và các chủ thể sản xuất, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã trong quá trình đăng ký và quản lý mã số.

Đáng chú ý, thời gian giải quyết thủ tục hành chính cũng được rút ngắn đáng kể.

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu, thời gian thực hiện thủ tục được giảm từ 14 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc, tức giảm 11 ngày, tương đương khoảng 78,6%.

Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, thời gian giải quyết được rút từ 14 ngày xuống còn 10 ngày làm việc, giảm 4 ngày, tương đương khoảng 28,6%.

Việc rút ngắn thời gian xử lý có ý nghĩa đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp, bởi nhiều mặt hàng nông sản có tính thời vụ cao. Khi thủ tục được giải quyết nhanh hơn, người sản xuất và doanh nghiệp có thêm thời gian chủ động xây dựng kế hoạch thu hoạch, đóng gói, tiêu thụ và xuất khẩu.

Quản lý tập trung, minh bạch dữ liệu

Không chỉ đơn giản hóa thủ tục, Nghị quyết số 36 còn đặt trọng tâm vào việc quản lý dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói một cách tập trung và thống nhất.

Theo quy định mới, dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được công khai, kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu có liên quan, phục vụ công tác quản lý thống nhất trên phạm vi cả nước.

Quảng cáo

Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc nông sản. Trong bối cảnh nhiều thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu chặt chẽ về nguồn gốc, an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất và tính minh bạch của chuỗi cung ứng, dữ liệu vùng trồng không còn đơn thuần là một thủ tục hành chính mà đã trở thành “tấm vé” quan trọng để nông sản bước vào những thị trường có tiêu chuẩn cao.

Nghị quyết cũng bãi bỏ quy định về diện tích tối thiểu, đồng thời làm rõ việc cấp mã số đối với cây trồng xen canh và chủ thể chịu trách nhiệm. Những quy định này góp phần tạo điều kiện phù hợp hơn với thực tế sản xuất đa dạng tại các địa phương, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu truy xuất nguồn gốc.

Đối với các mã số đã được cấp trước đây, Nghị quyết tiếp tục duy trì hiệu lực, bảo đảm quá trình chuyển đổi không làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.

Người dân chăm sóc, kiểm tra diện tích na tại vùng sản xuất tập trung ở Lạng Sơn.

Cơ hội để HTX trở thành “hạt nhân” quản lý vùng trồng

Việc đơn giản hóa thủ tục và số hóa quản lý mã số vùng trồng cũng đặt ra yêu cầu mới về cách tổ chức sản xuất. Trong đó, phát triển hợp tác xã (HTX) được xem là một hướng đi quan trọng.

Thực tế cho thấy, nếu mã số vùng trồng được cấp riêng lẻ cho từng hộ sản xuất, số lượng mã số có thể tăng rất nhanh khi quy mô vùng nguyên liệu mở rộng. Điều này không chỉ tạo áp lực cho cơ quan quản lý mà còn gây khó khăn cho các nước nhập khẩu trong việc phê duyệt, công nhận và giám sát hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn mã số vùng trồng của một quốc gia.

Vì vậy, việc xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, trong đó HTX đóng vai trò tổ chức sản xuất và liên kết các hộ thành viên, có thể giúp giảm đáng kể số lượng mã số lớn cần quản lý.

Theo hướng này, một mã số vùng trồng lớn có thể được cấp cho HTX, bên trong được quản lý chi tiết đến từng thành viên, từng hộ gia đình và từng khu vực sản xuất. Cách làm này vừa tạo thuận lợi cho công tác quản lý, vừa bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc đến từng lô sản phẩm.

Quan trọng hơn, mô hình này có thể giảm thiểu rủi ro cho cả người sản xuất và HTX khi phát sinh cảnh báo từ thị trường nhập khẩu.

Nếu một lô hàng bị phát hiện vi phạm và phía nước nhập khẩu đưa ra cảnh báo, việc quản lý dữ liệu chi tiết đến từng thành viên sẽ giúp khoanh vùng chính xác khu vực, hộ sản xuất hoặc mã số có liên quan. Khi đó, việc tạm dừng xuất khẩu có thể được áp dụng đúng đối tượng, thay vì ảnh hưởng đến toàn bộ vùng nguyên liệu.

Những hộ gia đình, thành viên HTX và các khu vực có mã số không liên quan đến cảnh báo vẫn có thể tiếp tục hoạt động xuất khẩu bình thường.

Cách làm này không chỉ bảo vệ quyền lợi của người sản xuất mà còn giúp HTX, doanh nghiệp và cơ quan quản lý chủ động hơn trong kiểm soát chất lượng, giảm nguy cơ thiệt hại dây chuyền khi xảy ra sự cố.

Đưa Nghị quyết vào cuộc sống

Để Nghị quyết số 36 nhanh chóng phát huy hiệu quả, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đề nghị các địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch triển khai.

Trọng tâm là tập trung nguồn lực hỗ trợ cấp xã thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ; chuẩn hóa dữ liệu về vùng trồng và cơ sở đóng gói. Cùng với đó là tăng cường kiểm tra, giám sát và đẩy mạnh tuyên truyền để người dân, HTX và doanh nghiệp hiểu rõ quy định mới.

Các đơn vị thuộc Bộ cũng được giao nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống số, hướng dẫn kỹ thuật, kết nối dữ liệu và hỗ trợ địa phương trong quá trình thực hiện.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 36 sẽ tạo bước chuyển mạnh trong công tác quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời giảm chi phí và thời gian thực hiện thủ tục hành chính.

Quan trọng hơn, việc đẩy mạnh chuyển đổi số và truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần hình thành những vùng nguyên liệu minh bạch, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh nông sản Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, mã số vùng trồng không chỉ là một thủ tục để hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu mà đang trở thành một phần quan trọng của năng lực cạnh tranh.

Khi thủ tục được đơn giản hóa, dữ liệu được số hóa, trách nhiệm quản lý được phân cấp và các HTX được phát huy vai trò tổ chức vùng nguyên liệu, cánh cửa thị trường sẽ rộng hơn đối với nông sản Việt. Đây cũng là nền tảng để ngành trồng trọt chuyển từ tư duy sản xuất theo sản lượng sang sản xuất có kiểm soát, có dữ liệu, có truy xuất và hướng tới phát triển bền vững.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm