Giá nông sản hôm nay 12/9: Tiêu đi ngang, cà phê giữ đà tăng, lúa gạo biến động

Giá nông sản hôm nay 12/9 diễn biến phân hóa rõ nét. Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang trong vùng 137.000 - 141.000 đồng/kg sau phiên tăng mạnh trước đó. Giá cà phê Tây Nguyên duy trì ở vùng cao, trong khi thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long có sự điều chỉnh trái chiều ở một số mặt hàng.

Giá tiêu hôm nay tiếp tục đi ngang

Sau khi tăng mạnh 2.000 - 4.000 đồng/kg trong phiên trước, giá hồ tiêu hôm nay 12/9 tạm thời ổn định tại các vùng sản xuất trọng điểm.

Giá tiêu trong nước hiện dao động 137.000 - 141.000 đồng/kg. Trong đó, Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức 141.000 đồng/kg, còn Đắk Lắk đứng ngay sau ở mức 140.000 đồng/kg.

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), giá tiêu được ghi nhận ở mức 137.500 đồng/kg. Trong khi đó, Gia Lai và Đồng Nai cùng có giá 137.000 đồng/kg, thấp nhất trong các địa phương được khảo sát.

Như vậy, mốc 140.000 đồng/kg tiếp tục được duy trì tại hai vùng sản xuất lớn là Đắk Nông và Đắk Lắk. So với thời điểm trước đợt tăng mạnh, mặt bằng giá tiêu trong nước hiện đã được nâng lên đáng kể.

Giá tiêu thế giới ổn định

Trên thị trường quốc tế, dữ liệu của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá các chủng loại hồ tiêu nhìn chung không có nhiều biến động.

Tiêu đen Indonesia được chào bán ở mức 6.936 USD/tấn. Tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.750 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.

Đối với tiêu trắng, tiêu trắng Muntok của Indonesia ở mức 9.496 USD/tấn. Giá tiêu trắng Việt Nam và Malaysia lần lượt đạt 8.400 USD/tấn và 12.200 USD/tấn.

Đáng chú ý, Mỹ tiếp tục là thị trường nhập khẩu quan trọng của hồ tiêu Việt Nam. Trong 7 tháng đầu năm, Mỹ nhập khẩu 54.878 tấn hồ tiêu, trong đó Việt Nam cung cấp 44.119 tấn, chiếm 80,4% tổng lượng nhập khẩu.

Giá cà phê duy trì ở vùng cao

Giá cà phê hôm nay 12/9 tại các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục duy trì ở mức cao, dao động 95.200 - 95.800 đồng/kg.

Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục dẫn đầu với mức 95.800 đồng/kg, chỉ còn cách mốc 96.000 đồng/kg khoảng 200 đồng.

Đắk Lắk và Gia Lai cùng ghi nhận mức 95.700 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng tiếp tục có giá thấp nhất khu vực, ở mức 95.200 đồng/kg.

Sau nhịp phục hồi trong những phiên gần đây, thị trường cà phê nội địa đang tương đối ổn định. Tuy nhiên, diễn biến trên các sàn quốc tế tiếp tục cho thấy sự phân hóa giữa Robusta và Arabica.

Robusta tăng phiên thứ ba liên tiếp

Trên sàn London, hợp đồng Robusta giao tháng 11/2026 tăng phiên thứ ba liên tiếp, thêm 2,36%, tương đương 82 USD/tấn, lên 3.554 USD/tấn.

Hợp đồng giao tháng 1/2027 cũng tăng 48 USD/tấn, tương đương 1,39%, lên 3.510 USD/tấn.

Động lực hỗ trợ Robusta đến từ những lo ngại về thời tiết tại Việt Nam, đặc biệt tại Tây Nguyên, vùng sản xuất cà phê trọng điểm của cả nước.

Trái ngược với Robusta, giá Arabica trên sàn New York tiếp tục chịu áp lực giảm.

Hợp đồng giao tháng 12/2026 giảm 1,34%, tương đương 3,9 US cent/pound, xuống 288,15 US cent/pound.

Hợp đồng giao tháng 3/2027 giảm 1,48%, tương đương 4,2 US cent/pound, xuống 279,45 US cent/pound.

Giá lúa gạo biến động nhẹ tại Đồng bằng sông Cửu Long

Quảng cáo

Trong khi giá tiêu và cà phê duy trì mặt bằng tương đối cao, thị trường lúa gạo hôm nay 12/9 tại Đồng bằng sông Cửu Long có diễn biến trái chiều.

Nguồn lúa Hè Thu còn ít, trong khi hoạt động mua bán mới tại nhiều địa phương vẫn khá chậm.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 giảm 200 đồng/kg, xuống 6.200 - 6.400 đồng/kg.

Lúa tươi Đài Thơm 8 giảm 100 đồng/kg, còn 6.200 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 giảm 100 đồng/kg, dao động 6.000 - 6.200 đồng/kg.

Ở chiều tăng, lúa tươi IR 50404 tăng 100 đồng/kg, lên 6.100 - 6.200 đồng/kg; OM 34 tăng 100 đồng/kg, dao động 5.800 - 6.000 đồng/kg.

Tại An Giang, giao dịch mua bán ít, giá lúa biến động trái chiều. Trong khi đó, tại Cà Mau, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ và Vĩnh Long, giao dịch mới ít và giá lúa chỉ biến động nhẹ.

Giá gạo nguyên liệu và phụ phẩm

Đối với gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.650 - 8.700 đồng/kg.

Gạo OM 5451 ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 ở mức 9.200 - 9.400 đồng/kg.

Trong khi đó, OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Giá phụ phẩm hiện dao động trong khoảng 7.450 - 8.400 đồng/kg. Trong đó, tấm thơm 3-4 ở mức 8.300 - 8.400 đồng/kg, còn cám dao động 7.450 - 7.600 đồng/kg.

Giá gạo bán lẻ tiếp tục ổn định

Tại các chợ lẻ, giá gạo hôm nay tiếp tục đứng giá.

Gạo Nàng Nhen có mức giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; Jasmine 17.000 - 18.000 đồng/kg.

Gạo Đài thơm hiện ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 13.500 - 15.000 đồng/kg; Sóc thường 15.000 - 16.000 đồng/kg; Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg và OM 18 ở mức 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp tiếp tục bình ổn. Nếp 3 tháng khô dao động 9.600 - 9.700 đồng/kg, trong khi nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu duy trì ổn định

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ ổn định so với phiên trước.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm dao động 445 - 450 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 367 - 371 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán 534 - 538 USD/tấn.

Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm dao động 478 - 482 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 374 - 378 USD/tấn.

Tại Pakistan, gạo trắng 5% tấm tăng 2 USD/tấn, lên 408 - 412 USD/tấn; gạo 100% tấm giữ ở mức 310 - 314 USD/tấn.

Trong khi đó, gạo 5% tấm của Ấn Độ dao động 370 - 374 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 306 - 310 USD/tấn.

Thị trường nông sản phân hóa rõ nét

Nhìn chung, thị trường nông sản ngày 12/9 đang cho thấy sự phân hóa giữa các nhóm hàng.

Hồ tiêu tạm thời đi ngang sau khi tăng mạnh, trong khi cà phê tiếp tục giữ mặt bằng cao nhờ diễn biến tích cực của Robusta. Ở chiều ngược lại, lúa gạo biến động nhẹ tại một số địa phương nhưng giá gạo bán lẻ và xuất khẩu nhìn chung vẫn ổn định.

Diễn biến giá trong thời gian tới sẽ tiếp tục phụ thuộc vào nguồn cung, nhu cầu tiêu thụ, thời tiết tại các vùng sản xuất cũng như tình hình xuất khẩu. Đây là những yếu tố có thể tạo ra những thay đổi đáng chú ý đối với mặt bằng giá nông sản trong nước.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm