Sản xuất duy trì đà tăng trưởng, xuất khẩu phân hóa
Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm, thủy sản tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm nguồn cung thực phẩm trong nước và tạo nguồn hàng phục vụ xuất khẩu. Tốc độ tăng trưởng GDP quý III của toàn ngành ước đạt 4,1-4,2%, tạo nền tảng để ngành Nông nghiệp bước vào giai đoạn nước rút cuối năm.
Ở lĩnh vực thủy sản, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Trần Đình Luân cho biết, tổng sản lượng thủy sản trong 9 tháng đạt 7,89 triệu tấn, bằng 78,1% kế hoạch năm và tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 9,17 tỷ USD, tương đương 76,2% kế hoạch, tăng 12,3%.
Trong trồng trọt, cả nước đã thu hoạch gần 1.820 nghìn héc ta lúa hè thu, bằng 99,6% cùng kỳ năm trước; diện tích gieo cấy lúa mùa đạt hơn 1.337 nghìn héc ta. Hoạt động chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt gần 4.280 nghìn tấn, tăng 4,4%; sản lượng thịt gia cầm đạt hơn 2.023 nghìn tấn, tăng 5,3% so với cùng kỳ.
Những kết quả trên góp phần duy trì nguồn cung nông sản, đồng thời tạo cơ sở cho hoạt động xuất khẩu. Trong 9 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Theo Cục trưởng Cục Chất lượng, chế biến và Phát triển thị trường Ngô Hồng Phong (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhiều nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Xuất khẩu rau quả đạt gần 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%; thủy sản đạt 9,17 tỷ USD, tăng 12,3%; sản phẩm chăn nuôi đạt 564,4 triệu USD, tăng 24,6%. Kim ngạch xuất khẩu hạt điều đạt 3,85 tỷ USD, tăng 2%; hạt tiêu đạt 1,4 tỷ USD, tăng 10,2%.
Tuy nhiên, bức tranh xuất khẩu vẫn có sự phân hóa rõ nét. Trong khi nhiều mặt hàng tăng trưởng tích cực, cà phê và gạo lại chịu sức ép từ giá xuất khẩu bình quân giảm, khiến giá trị thu về chưa tương xứng với sản lượng.
Cụ thể, trong 9 tháng, xuất khẩu cà phê đạt 1,4 triệu tấn, trị giá 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị. Xuất khẩu gạo đạt 6,4 triệu tấn, trị giá 3,11 tỷ USD, giảm lần lượt 6,1% về lượng và 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Thực tế này cho thấy, tăng sản lượng hoặc mở rộng khối lượng xuất khẩu chưa đủ để bảo đảm hiệu quả kinh tế nếu giá bán và giá trị gia tăng không được cải thiện. Đối với các ngành hàng chủ lực, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lượng, tổ chức sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, tăng cường chế biến và chủ động hơn trong hoạt động tiêu thụ.
Tại Hà Nội, sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định, từng bước hướng tới nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Trong vụ xuân, thành phố gieo trồng 99.871 ha, trong đó diện tích lúa đạt 78,5 nghìn héc ta, năng suất 64,5 tạ/ha, tăng 0,7%, sản lượng đạt 506 nghìn tấn. Diện tích rau đạt 23,8 nghìn héc ta, sản lượng 546,8 nghìn tấn.
Đối với vụ mùa, diện tích gieo cấy lúa đạt 58,2 nghìn héc ta, diện tích rau màu đạt 19.007 ha. Chăn nuôi và thủy sản tiếp tục duy trì quy mô đáng kể, với tổng đàn lợn khoảng 1,24 triệu con, đàn gia cầm 38,3 triệu con. Diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 23.650 ha, sản lượng khoảng 98.700 tấn, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm 2025.
Kết quả sản xuất tại Hà Nội cho thấy vai trò của việc duy trì nguồn cung nông sản gắn với nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc, việc tổ chức sản xuất theo nhu cầu tiêu thụ sẽ góp phần hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Quý IV: Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, hoàn thành mục tiêu
Quý IV-2026 có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất và xuất khẩu của toàn ngành. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành 4,0% và kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản từ 74 tỷ USD trở lên, các đơn vị cần tập trung cao độ, chủ động tháo gỡ khó khăn và đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ.
Một trong những trọng tâm là hoàn thành các nhiệm vụ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được giao trong năm 2026. Các đơn vị cần rà soát những nhiệm vụ đã báo cáo hoàn thành, bảo đảm có sản phẩm, kết quả cụ thể và hồ sơ minh chứng phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Cùng với đó, việc xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số cần được triển khai quyết liệt, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đối với xuất khẩu, tháo gỡ rào cản kỹ thuật và cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng. Tại thị trường Trung Quốc, cơ quan chức năng tiếp tục tham mưu giải quyết các vướng mắc trong xuất khẩu nông sản, đặc biệt là những yêu cầu kỹ thuật liên quan đến nghị định thư về thủy sản sống và trái cây.
Bên cạnh đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đề nghị báo cáo Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24-1-2026 nhằm tháo gỡ khó khăn trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Đây là những nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với địa phương và doanh nghiệp. Việc hoàn thiện cơ chế quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói sẽ góp phần tạo thuận lợi cho tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Qua đó, nông sản Việt Nam có thêm điều kiện duy trì thị trường hiện có và mở rộng cơ hội xuất khẩu.
Ở cấp địa phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường cho biết, để thực hiện các mục tiêu tăng trưởng trong những tháng cuối năm, thành phố tiếp tục khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất và giá trị gia tăng, đồng thời kiểm soát dịch bệnh và rủi ro thiên tai. Thành phố cũng tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, giải phóng mặt bằng, tạo chuyển biến thực chất đối với các động lực tăng trưởng.
Đối với sản xuất nông nghiệp, các địa phương cần triển khai hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển cây vụ đông trên đất trồng lúa theo Nghị quyết số 53/2025/NQ-HĐND. Việc bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế từng vùng, gắn trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản với chế biến, tiêu thụ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định nguồn cung thực phẩm trong những tháng cuối năm.
Nâng cao chất lượng, tạo nền tảng tăng trưởng bền vững
Những kết quả đạt được trong 9 tháng đầu năm tạo cơ sở để ngành Nông nghiệp tiếp tục phấn đấu hoàn thành các mục tiêu năm 2026. Tuy nhiên, áp lực từ giá cả, thị trường và yêu cầu chất lượng cho thấy giai đoạn cuối năm không chỉ là cuộc chạy đua về sản lượng, mà còn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị nông sản.
Để tạo chuyển biến thực chất, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất; đồng thời đẩy nhanh tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, thị trường và tổ chức sản xuất. Việc kiểm soát chất lượng, bảo đảm truy xuất nguồn gốc, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và gắn sản xuất với nhu cầu tiêu thụ sẽ là những yếu tố quan trọng giúp nông sản nâng cao sức cạnh tranh.
Tăng tốc trong quý IV vì vậy không chỉ nhằm hoàn thành các chỉ tiêu trước mắt, mà còn là cơ hội củng cố nền tảng phát triển của ngành Nông nghiệp theo hướng hiệu quả, có giá trị gia tăng cao và bền vững hơn.
