Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị

Đất đai, vốn, logistics, công nghệ và liên kết chuỗi vẫn là những điểm nghẽn cần được tháo gỡ để nông nghiệp chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị, sức cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Nông nghiệp trước yêu cầu chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị

Nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ

Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tìm kiếm động lực tăng trưởng mới khi dư địa mở rộng sản lượng không còn nhiều như trước. Dù xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn duy trì quy mô lớn, hiệu quả khai thác các nguồn lực như đất đai, vốn, công nghệ, chế biến, logistics và liên kết chuỗi vẫn còn hạn chế, khiến giá trị tạo ra chưa tương xứng với tiềm năng.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có hơn 50.000 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong tổng số gần một triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng năm 2026 ước đạt 56,3 tỷ USD. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của ngành vẫn thấp hơn nhiều lĩnh vực khác.

Tỷ trọng đóng góp của nông nghiệp trong GDP cũng có xu hướng giảm, từ 12,34% năm 2024 xuống 11,2% năm 2025 và dự kiến khoảng 10,38% trong năm 2026.

Sự dịch chuyển này phù hợp với quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế. Tuy nhiên, đây cũng là tín hiệu cho thấy yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng của ngành ngày càng rõ nét. Bài toán của nông nghiệp không còn đơn thuần là sản xuất được bao nhiêu, mà là mỗi đơn vị đất đai, vốn và lao động có thể tạo ra bao nhiêu giá trị; sản phẩm có thể tiếp cận những thị trường nào và doanh nghiệp Việt Nam có thể giữ lại bao nhiêu giá trị trong chuỗi.

Một trong những điểm nghẽn lớn là đất đai. Dù pháp luật đã có quy định về tích tụ, tập trung đất nông nghiệp, quá trình triển khai trên thực tế vẫn còn những vướng mắc, nhất là đối với doanh nghiệp có nhu cầu hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ và tổ chức sản xuất theo chuỗi.

Quy mô sản xuất nhỏ, phân tán cũng gây khó khăn cho việc xây dựng vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình, kiểm soát chất lượng và đầu tư cơ giới hóa. Trong khi đó, các thị trường ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và tiêu chuẩn môi trường. Những hạn chế trong tổ chức sản xuất vì vậy trở thành rào cản đối với khả năng mở rộng thị trường.

Liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị cũng chưa đủ chặt chẽ. Việt Nam còn thiếu những doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt, tổ chức vùng nguyên liệu và tạo kết nối ổn định giữa nông dân, hợp tác xã, nhà máy chế biến với thị trường tiêu thụ. Khi lợi ích giữa các mắt xích chưa được phân chia hài hòa, nhiều mối liên kết khó duy trì bền vững.

Logistics và vốn tiếp tục gây áp lực

Theo ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, logistics tiếp tục là một điểm nghẽn đáng kể của nông nghiệp.

Hạ tầng nông thôn còn hạn chế làm tăng chi phí vận chuyển, trong khi hệ thống kho lạnh và chuỗi lạnh chưa được đầu tư đồng bộ. Hạn chế này tác động rõ đến những mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn như rau, hoa, trái cây.

Chi phí logistics cao không chỉ ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm mà còn hạn chế khả năng tiếp cận các thị trường xa, nơi thời gian vận chuyển và điều kiện bảo quản có vai trò quan trọng.

Cùng với logistics, khả năng tiếp cận vốn vẫn là vấn đề kéo dài đối với cả doanh nghiệp và nông dân. Đầu tư vào nông nghiệp thường có thời gian thu hồi vốn dài, trong khi sản xuất chịu tác động từ thị trường, thiên tai và dịch bệnh. Điều này khiến việc huy động nguồn lực cho các dự án quy mô lớn, công nghệ cao hoặc có thời gian hoàn vốn dài gặp không ít thách thức.

Quảng cáo

Tại Hà Nội, những hạn chế này cũng thể hiện khá rõ trong thực tế sản xuất. Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Tạ Văn Tường, nông nghiệp Thủ đô còn phân tán, quy mô nhỏ; hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến và bảo quản chưa đồng bộ, trong khi quỹ đất dành cho nông nghiệp ngày càng thu hẹp.

Logistics tiếp tục là một điểm nghẽn đáng kể của nông nghiệp.

Giá trị phải được tạo ra từ toàn bộ chuỗi

Bên cạnh những điểm nghẽn nội tại, yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường xuất khẩu cũng đặt ra sức ép lớn đối với doanh nghiệp nông nghiệp.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nafoods Group, cho rằng các thị trường lớn như châu Âu và Mỹ liên tục nâng tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong khi đó, việc phụ thuộc nhiều vào một số thị trường có thể làm gia tăng rủi ro khi chính sách nhập khẩu hoặc yêu cầu kiểm soát chất lượng thay đổi.

Để hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP toàn ngành khoảng 3,7 - 4% và kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản trên 74 tỷ USD trong năm 2026, ngành nông nghiệp cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế.

Theo đó, giá trị sản phẩm cần được hình thành xuyên suốt quá trình, từ xây dựng vùng nguyên liệu, sản xuất, chế biến, bảo quản đến thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và phân phối.

Trong chuỗi giá trị này, chế biến sâu là một hướng quan trọng nhằm giảm phụ thuộc vào việc tiêu thụ nguyên liệu thô và hạn chế tác động của tính mùa vụ. Việc phát triển nhiều dòng sản phẩm từ cùng một nguồn nguyên liệu cũng tạo điều kiện kéo dài thời gian bảo quản và mở rộng phạm vi thị trường.

Một dư địa khác là phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo ông Hoàng Văn Hồng, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, nhiều phụ phẩm nông nghiệp có thể được chuyển thành nguồn nguyên liệu mới thay vì bị coi là chất thải.

Rơm rạ, phụ phẩm trồng trọt và chăn nuôi có thể được sử dụng để sản xuất phân bón, thức ăn chăn nuôi, năng lượng hoặc các sản phẩm có giá trị khác. Cách tiếp cận này vừa góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên, vừa tạo thêm nguồn thu và giảm áp lực môi trường trong sản xuất.

Kết nối nguồn lực để nâng sức cạnh tranh

Tại Hà Nội, định hướng trong những năm tới là phát triển trồng trọt theo hướng sinh thái, hiện đại, có giá trị gia tăng cao và thích ứng với biến đổi khí hậu. Thành phố định hướng tăng ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số và các quy trình canh tác tiên tiến, đồng thời mở rộng nông nghiệp hữu cơ và các mô hình giảm phát thải khí nhà kính.

Các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh được định hướng gắn chặt hơn với chuỗi giá trị, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và nhu cầu thị trường. Trong chăn nuôi, thủy sản và thú y, mục tiêu là chuyển mạnh sang các mô hình hiện đại, an toàn sinh học, bền vững và ứng dụng công nghệ cao.

Từ thực tế trên có thể thấy, để tạo bước chuyển về chất cho nông nghiệp, việc tháo gỡ từng điểm nghẽn riêng lẻ là chưa đủ. Các nguồn lực cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất.

Đất đai cần tạo điều kiện hình thành vùng sản xuất đủ lớn; vốn cần được đưa vào những dự án có khả năng nâng năng suất và giá trị; khoa học, công nghệ phải giải quyết những hạn chế của sản xuất; logistics kết nối vùng nguyên liệu với thị trường; còn doanh nghiệp giữ vai trò tổ chức và liên kết các mắt xích trong chuỗi.

Khi các nguồn lực được kết nối hiệu quả, nông nghiệp có thêm cơ sở để chuyển từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng giá trị, sức cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đây cũng là yêu cầu quan trọng để nông sản Việt Nam nâng cao khả năng thích ứng với thị trường và tạo ra giá trị bền vững hơn trong chuỗi.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm