GS.TS. Nguyễn Huy Bích phát biểu tại Hội thảo“Cơ giới hóa nông nghiệp thông minh, công nghệ chế biến và vật liệu – năng lượng bền vững hướng tới Net Zero”
Hội thảo khoa học “Cơ giới hóa nông nghiệp thông minh, công nghệ chế biến và vật liệu – năng lượng bền vững hướng tới Net Zero” do Khoa Cơ khí và Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế phối hợp với Tạp chí Công nghiệp Nông thôn tổ chức, hướng tới kỷ niệm 60 năm thành lập Trường. Tại hội thảo, tham luận của GS.TS. Nguyễn Huy Bích, nguyên Trưởng khoa Cơ khí – Công nghệ, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, hiện công tác tại Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, tập trung phân tích những bất cập trong cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam và đề xuất định hướng tái cấu trúc trong giai đoạn mới.
Bất cân xứng giữa đóng góp kinh tế và nguồn lực lao động
“Phải định vị đúng thì mới biết mình phải làm gì”, GS.TS. Nguyễn Huy Bích nhấn mạnh khi đề cập đến thực trạng nông nghiệp Việt Nam.
Theo số liệu được ông tổng hợp trong tham luận, năm 2025, giá trị khu vực nông nghiệp đạt khoảng 59,83 tỷ USD, chiếm 11,64% GDP. Trong khi đó, 61,5% dân số và 61,47% lực lượng lao động, tương đương khoảng 32,5 triệu người, vẫn thuộc khu vực nông thôn.
Từ những con số này, ông chỉ ra sự chênh lệch đáng kể giữa đóng góp kinh tế và quy mô dân số, lao động gắn với khu vực nông thôn. Đây không chỉ là vấn đề riêng của sản xuất nông nghiệp mà còn liên quan đến năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả phân bổ nguồn lực của nền kinh tế.
Trong điều kiện quỹ đất có hạn, việc mở rộng diện tích sản xuất khó có thể là động lực tăng trưởng duy nhất. Theo quan điểm của diễn giả, nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị diện tích cần gắn với việc đưa máy móc, công nghệ và tri thức vào quá trình sản xuất, từ khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch, bảo quản và chế biến.
Cơ giới hóa vì thế không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng máy móc được trang bị, mà cần đánh giá bằng mức độ đồng bộ của toàn bộ quy trình và hiệu quả kinh tế mà công nghệ mang lại.
Cơ giới hóa chưa đồng đều, tổn thất sau thu hoạch còn lớn
Theo tham luận, mức trang bị động lực bình quân cả nước mới đạt 3,12 mã lực/ha, bình quân khoảng 50 hộ mới có một máy kéo. Những con số này phản ánh dư địa phát triển cơ giới hóa còn lớn, đồng thời cho thấy sự khác biệt giữa các vùng sản xuất và các khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp.
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có mức độ cơ giới hóa sản xuất lúa tương đối cao, với mức trang bị động lực đạt 3,76 mã lực/ha. Cơ giới hóa khâu làm đất đạt 100%, thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp đạt trên 95% và sấy đạt 96%.
Tuy nhiên, ở khâu bảo quản, tỷ lệ cơ giới hóa mới đạt 13–15%. Theo số liệu được dẫn trong tham luận, tổn thất sau thu hoạch vẫn ở mức 10,26% sản lượng lúa, tương đương khoảng 2,1 triệu tấn và giá trị ước tính khoảng 550 triệu USD mỗi năm.
Thực trạng này cho thấy cơ giới hóa tốt ở khâu sản xuất chưa đủ để bảo đảm hiệu quả toàn chuỗi. Nếu năng lực sấy, bảo quản và chế biến không theo kịp, một phần đáng kể giá trị nông sản vẫn có thể bị thất thoát sau khi thu hoạch.
Ở lĩnh vực cây ăn trái tại Đồng bằng sông Cửu Long, theo tham luận, cơ giới hóa khâu làm đất mới đạt khoảng 60%; các công đoạn trồng, chăm sóc, thu hái và sơ chế phần lớn vẫn thực hiện thủ công. Tình trạng thiếu kho lạnh cũng là một hạn chế đối với việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong nuôi trồng thủy sản, máy cho ăn tự động và thiết bị quan trắc môi trường nước đã được ứng dụng, nhưng mức độ đồng bộ giữa các công đoạn còn hạn chế.
Những khác biệt giữa các ngành hàng cho thấy cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam vẫn phát triển không đồng đều, tập trung ở một số cây trồng và công đoạn nhất định. Bài toán đặt ra không chỉ là tăng số lượng máy móc mà còn phải lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất, quy mô trang trại và đặc điểm từng ngành hàng.
Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nông nghiệp thông minh cần gắn với điều kiện cụ thể của từng địa phương, khả năng đầu tư của người sản xuất và hiệu quả kinh tế của thiết bị. Công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được lựa chọn phù hợp, vận hành hiệu quả và kết nối được với các khâu khác trong chuỗi sản xuất.
Năng lực chế tạo trong nước là điểm nghẽn
Bên cạnh những hạn chế trong ứng dụng máy móc, năng lực chế tạo thiết bị nông nghiệp trong nước cũng là vấn đề được GS.TS. Nguyễn Huy Bích lưu ý.
Dẫn số liệu của Bộ Công Thương trong tham luận, ông cho biết máy kéo sản xuất trong nước mới đáp ứng khoảng 20–30% nhu cầu, trong khi hơn 70% phải nhập khẩu. Theo đánh giá của diễn giả, giá thành cao và chủng loại sản phẩm còn hạn chế khiến máy móc nông nghiệp trong nước gặp khó khăn trong cạnh tranh.
Sự phụ thuộc vào thiết bị nhập khẩu đặt ra yêu cầu phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế và chế tạo trong nước, đồng thời nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất nông nghiệp.
Đối với Việt Nam, cơ cấu sản xuất nông nghiệp trải rộng trên nhiều vùng sinh thái, từ đồng bằng, trung du đến miền núi; quy mô sản xuất và điều kiện canh tác cũng khác nhau đáng kể. Vì vậy, thiết bị nông nghiệp cần phù hợp với đặc điểm đất đai, cây trồng, vật nuôi và điều kiện vận hành thực tế.
Nếu thiếu sự gắn kết giữa nghiên cứu, chế tạo và nhu cầu sử dụng, sản phẩm khó phát huy hiệu quả khi đưa vào sản xuất. Ngược lại, việc phát triển thiết bị dựa trên những vấn đề thực tế của nông dân và doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện nâng cao khả năng ứng dụng, từng bước cải thiện sức cạnh tranh của ngành cơ khí nông nghiệp.
Phát triển nông nghiệp thông minh, hướng tới sản xuất bền vững
Theo GS.TS. Nguyễn Huy Bích, áp lực bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao năng suất lao động và giảm phát thải đang khiến việc đổi mới mô hình cơ giới hóa trở thành yêu cầu cấp thiết. Cơ giới hóa thông minh không chỉ dừng ở việc thay thế lao động thủ công bằng máy móc mà còn hướng tới kết nối thiết bị, dữ liệu, tự động hóa và quản lý sản xuất.
Trong tham luận, ông dẫn các ví dụ quốc tế để minh họa khoảng cách về trình độ cơ giới hóa. Theo số liệu được trình bày, mức độ cơ giới hóa tại Mỹ và Canada đạt khoảng 95%, tại Pháp đạt 99%; mức trang bị động lực của Nhật Bản đạt khoảng 7 mã lực/ha, cao hơn đáng kể so với Đồng bằng sông Cửu Long. Ông cũng nhấn mạnh vai trò của các chính sách tín dụng và hỗ trợ của Nhà nước trong thúc đẩy cơ giới hóa tại những quốc gia này.
Một ví dụ khác được đề cập là mô hình trang trại thông minh tại Bulgaria. Theo số liệu trong tham luận, việc ứng dụng Internet vạn vật (IoT), dữ liệu và tự động hóa giúp mô hình giảm 30% năng lượng, giảm 20% lượng phân bón, giảm 30% nhân công và thu hồi vốn sau 10 tháng. Đây là những kết quả được dẫn từ mô hình cụ thể, cho thấy tiềm năng của việc kết hợp công nghệ số với quản trị sản xuất.
Tại Việt Nam, tham luận giới thiệu mô hình trang trại mía trình diễn Ninh Điền của AgriS, thuộc Công ty Cổ phần Thành Thành Công – Biên Hòa, tại Tây Ninh. Với diện tích 1.250 ha mía luân canh cây họ đậu, mô hình triển khai cơ giới hóa đồng bộ từ làm đất, sản xuất đến thu hoạch và vận chuyển.
Theo số liệu được diễn giả trình bày, năng suất mía tại mô hình cao hơn 23% so với bình quân trong vùng; mỗi nhân sự có thể quản lý tới 89 ha. Dẫn chứng này cho thấy cơ giới hóa đồng bộ có thể tạo ra những thay đổi đáng kể trong tổ chức sản xuất, sử dụng lao động và quản lý trang trại.
Liên kết bốn nhà, tháo gỡ điểm nghẽn về chính sách và nhân lực
Để cơ giới hóa nông nghiệp phát triển đồng bộ, GS.TS. Nguyễn Huy Bích nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa nông dân, các viện và trường nghiên cứu, nhà chế tạo máy và doanh nghiệp.
“Bốn thành phần này tách rời ra thì sự nghiệp cơ giới hóa không thể thành công”, ông khẳng định.
Theo ông, nghiên cứu khoa học cần gắn với nhu cầu thực tiễn và tạo ra khả năng ứng dụng, chuyển giao cụ thể. Doanh nghiệp cần nhìn thấy hiệu quả và lợi ích kinh tế để có động lực tham gia; trong khi nông dân cần được tiếp cận những giải pháp phù hợp với điều kiện sản xuất. Các viện, trường giữ vai trò nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tri thức; nhà chế tạo đảm nhiệm việc phát triển thiết bị đáp ứng yêu cầu thực tế.
Đánh giá cao sự kết nối giữa nghiên cứu và doanh nghiệp thể hiện trong các báo cáo của Khoa Cơ khí và Công nghệ tại hội thảo, diễn giả cho rằng đây là hướng đi cần được thúc đẩy để rút ngắn khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và ứng dụng trên đồng ruộng.
Từ thực trạng cơ giới hóa hiện nay, tham luận đề xuất năm nhóm giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tháo gỡ các nút thắt về ruộng đất manh mún, thu nhập thấp của nông dân và khả năng tiếp cận tín dụng. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đầu tư máy móc và tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Thứ hai, xây dựng chính sách quốc gia về chế tạo máy nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế và sản xuất thiết bị trong nước.
Thứ ba, tăng cường liên kết giữa nông dân, viện – trường, nhà chế tạo và doanh nghiệp, bảo đảm hoạt động nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường và có khả năng chuyển giao vào thực tiễn.
Thứ tư, đầu tư nghiên cứu cơ giới hóa đồng bộ đối với một số cây trồng, vật nuôi chủ lực, từng bước phát triển các mô hình trang trại thông minh phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước.
Thứ năm, xây dựng chính sách tổng thể về đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành cơ khí nông nghiệp và nông nghiệp thông minh.
Trong các nhóm giải pháp, nguồn nhân lực là vấn đề khiến GS.TS. Nguyễn Huy Bích đặc biệt trăn trở. Theo ông, ngành cơ khí nông nghiệp đang gặp khó khăn trong tuyển sinh, do đó cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp như học bổng, miễn học phí và cơ chế đào tạo đặc thù.
Nông nghiệp thông minh đòi hỏi sự kết hợp giữa cơ khí, điện tử, công nghệ dữ liệu và kiến thức nông học. Vì vậy, đào tạo theo hướng liên ngành là yêu cầu quan trọng để hình thành đội ngũ có khả năng thiết kế, vận hành và quản lý các hệ thống sản xuất hiện đại. Diễn giả liên hệ định hướng này với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW.
Đưa tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất
Những vấn đề được đặt ra trong tham luận của GS.TS. Nguyễn Huy Bích có sự kết nối với các hướng nghiên cứu khác tại hội thảo. GS.TS. Lê Văn Tán trình bày về công nghệ thực phẩm và bảo quản sau thu hoạch; PGS.TS. Nguyễn Vũ Quỳnh đề cập đến tự động hóa và quản lý năng lượng hướng tới Net Zero. Các nội dung này cho thấy cơ giới hóa nông nghiệp cần được tiếp cận trong mối liên hệ với chế biến, sử dụng năng lượng và quản lý toàn bộ quá trình sản xuất.
Tại phiên khai mạc, TSKH. Bạch Quốc Khang, đại diện lãnh đạo Hội Cơ khí Nông nghiệp Việt Nam, đề xuất chuyển từ việc tập hợp các nhà khoa học sang xây dựng năng lực chung cho ngành. Nhà báo, TS. Lê Ngọc Ánh, Tổng Biên tập Tạp chí Công nghiệp Nông thôn, cũng nhấn mạnh yêu cầu mỗi công trình khoa học cần làm rõ vấn đề được giải quyết, điều kiện áp dụng và ý nghĩa thực tiễn.
Các ý kiến tại hội thảo cùng hướng tới một yêu cầu: nghiên cứu khoa học không chỉ dừng ở kết quả chuyên môn mà cần được chuyển hóa thành giải pháp có khả năng ứng dụng, góp phần tháo gỡ những khó khăn cụ thể trong sản xuất.
Tái cấu trúc cơ khí nông nghiệp vì thế không đơn thuần là đổi mới máy móc hay tăng mức độ tự động hóa. Đây là quá trình kết nối công nghệ, năng lực chế tạo, tổ chức sản xuất, chính sách hỗ trợ và nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả toàn chuỗi giá trị nông nghiệp.
Như thông điệp GS.TS. Nguyễn Huy Bích nhấn mạnh trong tham luận, nông nghiệp Việt Nam khó có thể hội nhập sâu rộng và đạt giá trị gia tăng cao nếu không thúc đẩy cơ giới hóa theo hướng thông minh, đồng bộ. Đưa tri thức khoa học vào cánh đồng, gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tế và tạo dựng liên kết giữa các chủ thể sẽ là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam.
