Giá nông sản hôm nay 14/8: Cà phê giảm phiên thứ hai, hồ tiêu đi ngang, gạo xuất khẩu tăng nhẹ

Giá nông sản hôm nay (14/8) tiếp tục phân hóa giữa các mặt hàng chủ lực. Cà phê Tây Nguyên giảm thêm 500 đồng/kg, xuống còn 96.300-97.000 đồng/kg khi robusta thế giới chịu áp lực nguồn cung. Giá hồ tiêu giữ ổn định trong khoảng 136.000-139.000 đồng/kg. Trong khi đó, thị trường lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động nhưng giá gạo xuất khẩu Việt Nam tăng nhẹ so với đầu tuần.

Cà phê giảm thêm 500 đồng/kg

Thị trường cà phê trong nước ngày 14/8 tiếp tục điều chỉnh giảm. Tại các tỉnh Tây Nguyên, giá thu mua phổ biến giảm 500 đồng/kg so với ngày trước đó, đưa mặt bằng giá về khoảng 96.300-97.000 đồng/kg.

Tại Đắk Nông, giá cà phê được điều chỉnh xuống 97.000 đồng/kg, vẫn là mức cao nhất khu vực. Đắk Lắk và Gia Lai cùng giao dịch ở mức 96.800 đồng/kg, trong khi Lâm Đồng ghi nhận mức 96.300 đồng/kg.

Khu vực Giá cà phê
Đắk Nông 97.000 đồng/kg
Đắk Lắk 96.800 đồng/kg
Gia Lai 96.800 đồng/kg
Lâm Đồng 96.300 đồng/kg

Như vậy, sau khi phục hồi lên mức 98.000 đồng/kg vào đầu tuần, cà phê trong nước đã quay đầu giảm trong hai phiên liên tiếp và tiếp tục lùi xa mốc 100.000 đồng/kg.

Diễn biến này chủ yếu chịu tác động từ xu hướng đi xuống của cà phê robusta trên thị trường quốc tế.

Trên sàn London, hợp đồng robusta giao tháng 9/2026 giảm 0,34%, tương đương 13 USD/tấn, xuống 3.769 USD/tấn. Hợp đồng tháng 11/2026 giảm mạnh hơn 0,66%, tương đương 25 USD/tấn, còn 3.752 USD/tấn.

Robusta giảm nhưng arabica tiếp tục tăng

Trái ngược với robusta, giá cà phê arabica trên sàn New York duy trì đà tăng.

Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 1,3%, tương đương 4,35 US cent/pound, lên 340,1 US cent/pound. Hợp đồng tháng 12/2026 tăng 1,35%, tương đương 4,25 US cent/pound, đạt 319,95 US cent/pound.

Arabica đang nhận được lực hỗ trợ khi lượng tồn kho được chứng nhận trên sàn ICE tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất kể từ cuối năm 2023. Giới giao dịch nhận định lượng tồn kho này khó được bổ sung đáng kể trong thời gian ngắn.

Tiến độ thu hoạch tại Brazil cũng chậm hơn so với cùng kỳ năm trước. Cooxupé, hợp tác xã cà phê lớn nhất Brazil, cho biết tính đến ngày 7/8, các thành viên đã thu hoạch 74,6% sản lượng vụ 2026, thấp hơn mức 80,4% cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, áp lực nguồn cung đang tác động đáng kể tới robusta.

Xuất khẩu cà phê nhân xanh của Brazil trong tháng 7 tăng 8,7% so với cùng kỳ, đạt 2,67 triệu bao loại 60kg. Đáng chú ý, xuất khẩu robusta của nước này tăng tới 84,4%, lên 851.235 bao.

Tại Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,31 triệu tấn, tăng 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, kim ngạch giảm 11,2%, xuống còn khoảng 5,45 tỷ USD.

Riêng tháng 7, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 396.000 tấn, tăng mạnh 287% so với cùng kỳ.

Những diễn biến trái chiều giữa sản lượng, xuất khẩu và giá quốc tế cho thấy thị trường cà phê vẫn đang trong giai đoạn nhạy cảm với các tín hiệu về nguồn cung từ Việt Nam và Brazil.

Giá hồ tiêu ổn định quanh 136.000-139.000 đồng/kg

Trái với đà giảm của cà phê, thị trường hồ tiêu ngày 14/8 tương đối ổn định tại các vùng sản xuất trọng điểm.

Giá tiêu trong nước hiện dao động từ 136.000-139.000 đồng/kg.

Quảng cáo

Đắk Nông cũ, thuộc Lâm Đồng, tiếp tục ghi nhận mức cao nhất khoảng 139.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 138.000 đồng/kg.

Gia Lai, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc TP.HCM cùng giao dịch quanh 136.000 đồng/kg.

Sau những phiên tăng giảm nhẹ, thị trường hồ tiêu đang trở lại trạng thái ổn định, với khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất khoảng 3.000 đồng/kg.

Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại các nước sản xuất lớn cũng chưa xuất hiện biến động đáng kể.

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia hiện ở mức 6.856 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 5.900 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động 5.970-6.050 USD/tấn đối với hai chủng loại 500 g/l và 550 g/l. Giá tiêu trắng xuất khẩu duy trì ở mức 8.400 USD/tấn.

Giá lúa Đồng bằng sông Cửu Long ít biến động

Thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 14/8 nhìn chung ổn định. Nguồn cung tương đối dồi dào nhưng hoạt động giao dịch tại nhiều địa phương chưa thực sự sôi động.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi IR 50404 được thu mua ở mức 6.300-6.400 đồng/kg; OM 5451 khoảng 6.700-6.800 đồng/kg.

Đài Thơm 8 và OM 18 cùng dao động 6.900-7.000 đồng/kg, trong khi OM 34 ở mức 6.100-6.300 đồng/kg.

Tại An Giang, lúa thơm bước vào giai đoạn thu hoạch rộ nhưng giá vẫn tương đối vững. Nhu cầu đối với những diện tích lúa còn xa ngày cắt tại Tây Ninh khá tốt, góp phần giữ giá ở mức cao.

Trong khi đó, hoạt động mua bán tại Đồng Tháp, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long chậm hơn, giá lúa chủ yếu đi ngang.

Gạo xuất khẩu Việt Nam tăng nhẹ

Ở phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, IR 504 được giao dịch khoảng 9.800-9.900 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.900-9.950 đồng/kg; OM 5451 khoảng 9.300-9.400 đồng/kg.

Gạo OM 18 dao động 8.700-8.850 đồng/kg, còn Đài Thơm 8 ở mức 9.200-9.400 đồng/kg.

Giá phụ phẩm dao động khoảng 7.450-8.750 đồng/kg. Trong đó, giá cám giảm 150 đồng/kg, xuống còn 7.450-7.600 đồng/kg.

Tại thị trường bán lẻ, giá gạo nhìn chung ổn định. Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức giá cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; Jasmine 16.500-17.500 đồng/kg; Đài Thơm 15.000-16.000 đồng/kg và gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg.

Đáng chú ý, thị trường xuất khẩu ghi nhận tín hiệu tích cực hơn.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 500-505 USD/tấn, tăng 5 USD/tấn so với đầu tuần.

Gạo Jasmine ở mức 538-542 USD/tấn, trong khi gạo thơm 100% tấm dao động 370-374 USD/tấn.

So với Việt Nam, gạo 5% tấm của Thái Lan hiện ở mức 450-454 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Ấn Độ khoảng 360-364 USD/tấn.

Việc giá gạo xuất khẩu Việt Nam nhích tăng đang tạo thêm lực đỡ cho thị trường trong nước. Tuy nhiên, khi hoạt động mua bán tại nhiều địa phương vẫn còn chậm, diễn biến giá trong thời gian tới sẽ tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào nhu cầu xuất khẩu và tiến độ thu hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm