Xuất khẩu rau quả 8 tháng vượt 6 tỷ USD: Tháo nút thắt vùng nguyên liệu, mở dư địa tăng trưởng

Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh trong năm 2026, với kim ngạch 8 tháng đạt 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước. Sầu riêng bước vào chính vụ, nhu cầu nhập khẩu tăng trong những tháng cuối năm đang tạo thêm động lực cho xuất khẩu. Tuy nhiên, để biến lợi thế mùa vụ và thị trường thành tăng trưởng bền vững, ngành rau quả cần giải quyết căn bản hai điểm nghẽn: sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu chuẩn hóa và năng lực chế biến sâu chưa tương xứng với tiềm năng.
Xuất khẩu rau quả Việt Nam đạt 6,02 tỷ USD sau 8 tháng 2026. Chuẩn hóa vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh chế biến sâu là chìa khóa tăng trưởng.

Sầu riêng tạo lực kéo, rau quả hướng tới những kỷ lục mới

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu hàng rau quả tháng 8/2026 ước đạt 1,24 tỷ USD. Qua đó, tổng giá trị xuất khẩu rau quả 8 tháng đầu năm đạt 6,02 tỷ USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2025.

Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của rau quả Việt Nam, chiếm 58,9% tổng giá trị xuất khẩu. Tiếp theo là Hoa Kỳ và Hàn Quốc, với thị phần lần lượt 7,6% và 4,2%.

So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu rau quả trong 7 tháng đầu năm sang Trung Quốc tăng 33,1%; Hoa Kỳ tăng 14,4% và Hàn Quốc tăng 9,6%.

Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Campuchia ghi nhận mức tăng mạnh nhất, gấp 2,5 lần. Ngược lại, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất là thị trường có mức giảm mạnh nhất, 38,7%.

Động lực tăng trưởng được kỳ vọng tiếp tục duy trì trong những tháng cuối năm khi sầu riêng tại các tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk và Lâm Đồng bước vào giai đoạn thu hoạch rộ. Nguồn cung lớn trong chính vụ đang tạo điều kiện để doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Không chỉ sầu riêng, nhiều mặt hàng khác như dừa, hạt dẻ cười, chanh leo, mít, ớt, dứa, bưởi và hoa cúc cũng góp phần làm phong phú cơ cấu xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Bên cạnh yếu tố mùa vụ, nhu cầu nhập khẩu rau quả tại Trung Quốc và các nước Đông Bắc Á thường tăng trong quý IV để phục vụ các dịp lễ, Tết. Đây là cơ hội để những sản phẩm như thanh long, dừa tươi, bưởi, xoài và chanh leo tiếp tục mở rộng thị trường.

Đáng chú ý, nhóm rau quả chế biến như sản phẩm sấy khô, cấp đông và nước ép đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, chiếm hơn 30% tổng kim ngạch. Nguồn nguyên liệu trong nước tương đối dồi dào tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng công suất chế biến, kéo dài thời gian bảo quản và tiếp cận thêm các thị trường mới.

Thị trường lớn còn nhiều dư địa

Nhìn lại quá trình phát triển, rau quả đang trở thành một trong những nhóm hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý của nông nghiệp Việt Nam.

Theo Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Đức Nguyên, ngành hàng đã có bước tiến đáng kể trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng, tiêu chuẩn và tính ổn định của nguồn hàng.

Trung Quốc hiện chiếm khoảng 64-65% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam và tiếp tục là thị trường quan trọng nhất.

Sự tập trung này đặt ra yêu cầu đa dạng hóa thị trường, nhưng theo ông Đặng Đức Nguyên, đây chưa hẳn là điểm yếu nếu doanh nghiệp Việt Nam tiếp tục khai thác tốt dư địa còn rất lớn tại thị trường Trung Quốc.

Qua khảo sát tại Bắc Kinh, ông cho biết nhiều loại trái cây Việt Nam vẫn chưa được người tiêu dùng biết đến rộng rãi. Ngoài chuối và sầu riêng, phần lớn các sản phẩm khác còn khá xa lạ với người tiêu dùng.

Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội. Bởi khi thị trường còn dư địa, việc nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tổ chức tốt hoạt động xúc tiến thương mại có thể giúp rau quả Việt Nam mở rộng thị phần thay vì chỉ phụ thuộc vào những sản phẩm đã quen thuộc.

Sau Trung Quốc, Hoa Kỳ chiếm khoảng 8,6% kim ngạch xuất khẩu rau quả; Hàn Quốc 5,3%; Nhật Bản 3,4%; Malaysia và Hà Lan cùng khoảng 2,88%; Đức hơn 1,7%.

Việc mở thêm thị trường cũng đang có những chuyển biến tích cực.

Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quốc Mạnh đánh giá, việc mở cửa thêm các thị trường xuất khẩu là kết quả của quá trình đàm phán kỹ thuật kéo dài nhiều năm.

Không chỉ mở rộng cơ hội đưa nông sản Việt Nam tiếp cận những thị trường lớn, quá trình này còn thúc đẩy xu hướng xuất khẩu chính ngạch, minh bạch và đáp ứng ngày càng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế.

Sầu riêng bước vào chính vụ tại các tỉnh Tây Nguyên, tạo nguồn cung lớn và thêm động lực cho xuất khẩu rau quả những tháng cuối năm 2026.

Sản xuất manh mún: Điểm nghẽn cần được tháo gỡ

Đằng sau những con số tăng trưởng tích cực, ngành rau quả vẫn đối mặt với những hạn chế mang tính căn cơ.

Nổi bật là tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và thiếu đồng nhất về quy trình canh tác. Diện tích sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP hiện vẫn chiếm tỷ lệ thấp.

Khi mỗi hộ nông dân áp dụng một quy trình khác nhau, doanh nghiệp rất khó kiểm soát chất lượng đồng đều của từng lô hàng. Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu chặt chẽ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc.

Quảng cáo

Nói cách khác, một lô hàng đạt chuẩn không còn là câu chuyện riêng của doanh nghiệp xuất khẩu. Chất lượng phải được kiểm soát ngay từ vùng nguyên liệu.

Một điểm nghẽn khác là năng lực chế biến sâu còn hạn chế.

Năm 2025, sản phẩm rau quả chế biến đóng góp khoảng 2 tỷ USD, tương đương 23% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả. Tuy nhiên, nếu tính trên tổng sản lượng rau quả sản xuất trong nước, tỷ lệ chế biến sâu mới đạt khoảng 17-18%, thấp hơn đáng kể so với những quốc gia có ngành công nghiệp chế biến phát triển.

Đây là khoảng trống lớn nhưng đồng thời cũng là dư địa tăng trưởng của ngành.

Chế biến sâu để giảm áp lực mùa vụ

Theo Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đặng Đức Nguyên, đẩy mạnh chế biến sâu không chỉ giúp nâng giá trị sản phẩm mà còn là giải pháp quan trọng để điều tiết cung cầu.

Rau quả Việt Nam thường tập trung thu hoạch trong một số thời điểm nhất định. Nếu quá phụ thuộc vào xuất khẩu tươi, khi bước vào chính vụ, nguồn cung tăng mạnh có thể tạo áp lực tiêu thụ, kéo giá xuống.

Phát triển các sản phẩm sấy, cấp đông, nước ép và những dòng sản phẩm có giá trị gia tăng cao sẽ giúp kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch và mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường mới.

Đây cũng là cách để ngành rau quả giảm dần sự phụ thuộc vào yếu tố mùa vụ.

Thay vì chỉ bán sản phẩm tươi trong một khoảng thời gian ngắn, doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều dòng sản phẩm với thời gian bảo quản dài hơn, giá trị cao hơn và thị trường rộng hơn.

Chuẩn hóa từ vùng trồng để giữ đà xuất khẩu

Để duy trì tốc độ tăng trưởng, yêu cầu trước mắt là tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, đồng bộ và có khả năng kiểm soát.

Các địa phương cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nông dân và doanh nghiệp nắm rõ các quy định của từng thị trường, đặc biệt là yêu cầu về mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng.

Việc này có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế nguy cơ hàng hóa không đáp ứng yêu cầu, bị ách tắc tại cửa khẩu hoặc phải xử lý do không bảo đảm tiêu chuẩn nhập khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn từ sản xuất đến thị trường. Trọng tâm là tổ chức lại sản xuất, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, chuẩn hóa quy trình canh tác, đồng thời quản lý chặt mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Các địa phương cũng được yêu cầu tăng cường giám sát việc duy trì điều kiện vùng trồng, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, đặc biệt đối với những mặt hàng xuất khẩu chủ lực.

Song song với việc củng cố các thị trường hiện có, công tác đàm phán kỹ thuật và mở cửa thị trường mới tiếp tục được đẩy mạnh. Đa dạng hóa sản phẩm và thị trường sẽ giúp giảm mức độ phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, đồng thời tạo thêm dư địa cho các nhóm sản phẩm mới.

Công tác hướng dẫn, tập huấn cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp về yêu cầu cụ thể của từng thị trường cũng cần được tăng cường, để những tiêu chuẩn xuất khẩu được thực hiện ngay từ khâu sản xuất.

Từ tăng trưởng kim ngạch đến tăng trưởng bền vững

Đà tăng trưởng hơn 24% trong 8 tháng đầu năm cho thấy rau quả Việt Nam đang có một nền tảng thị trường đáng kể. Sầu riêng vào chính vụ, nhu cầu nhập khẩu tăng trong quý IV và sự mở rộng của nhiều nhóm sản phẩm đang tạo ra những động lực mới cho xuất khẩu.

Nhưng tăng trưởng nhanh cũng đặt ngành hàng trước một bài toán lớn hơn: làm thế nào để tăng trưởng không phụ thuộc quá nhiều vào mùa vụ, một vài sản phẩm hay một vài thị trường?

Câu trả lời nằm ở việc nâng chất lượng từ gốc.

Tổ chức lại vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát mã số vùng trồng, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đầu tư cho chế biến sau thu hoạch cần được thực hiện đồng bộ.

Đặc biệt, việc gắn vùng nguyên liệu với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu sẽ tạo ra mối liên kết ổn định hơn giữa người sản xuất và thị trường.

Khi mỗi vùng trồng có thể kiểm soát được chất lượng, mỗi lô hàng có thể truy xuất được nguồn gốc và sản phẩm không còn phụ thuộc hoàn toàn vào việc bán tươi trong mùa vụ, ngành rau quả sẽ có thêm nền tảng để nâng cao giá trị.

6,02 tỷ USD sau 8 tháng là một dấu mốc đáng ghi nhận. Nhưng mục tiêu lớn hơn không chỉ là những kỷ lục về kim ngạch, mà là xây dựng một ngành rau quả có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tạo giá trị cao hơn cho nông dân và doanh nghiệp, đồng thời duy trì sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong dài hạn.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm