Việt Nam xuất khẩu gần 5,5 triệu tấn gạo, vì sao vẫn chi 800 triệu USD nhập khẩu?

Bảy tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 5,5 triệu tấn gạo, thu về khoảng 2,64 tỷ USD, trong khi chi khoảng 800 triệu USD nhập khẩu lúa gạo. Hai dòng thương mại tưởng như trái chiều thực tế đang phục vụ những nhu cầu khác nhau: Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu gạo chất lượng cao, đồng thời nhập lúa, gạo nguyên liệu để chế biến, cân đối nguồn cung và tận dụng lợi thế về xay xát, logistics.
Bảy tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu gần 5,5 triệu tấn gạo nhưng chi khoảng 800 triệu USD nhập lúa gạo. Dòng hàng nhập chủ yếu phục vụ chế biến, cân đối nguyên liệu và nguồn cung.

Nhập khẩu chủ yếu để làm nguyên liệu

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 7/2026, Việt Nam thu gần 253 triệu USD từ xuất khẩu gạo. Lũy kế 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2,64 tỷ USD, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2025; khối lượng xuất khẩu đạt gần 5,5 triệu tấn.

Ở chiều ngược lại, riêng tháng 7, các doanh nghiệp trong nước chi gần 108 triệu USD nhập khẩu gạo các loại. Đây là mức cao thứ ba kể từ đầu năm, sau tháng 3 với 267,8 triệu USD và tháng 4 với 159,8 triệu USD.

Tính chung 7 tháng, kim ngạch nhập khẩu được nêu ở mức khoảng 800 triệu USD, giảm 25,2% so với khoảng 1,07 tỷ USD cùng kỳ năm 2025.

Điều quan trọng là số liệu nhập khẩu này không đồng nghĩa toàn bộ là gạo thành phẩm để bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Cơ cấu nhập khẩu bao gồm lúa, gạo, tấm và nhiều loại nguyên liệu khác phục vụ xay xát, chế biến thực phẩm, sản xuất công nghiệp và thức ăn chăn nuôi.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khoảng 2,785 triệu tấn lúa gạo các loại, trị giá xấp xỉ 800 triệu USD, giảm 14,53% về lượng so với cùng kỳ năm 2025.

Tính theo số liệu 6 tháng, trị giá nhập khẩu bình quân khoảng 287 USD/tấn, thấp hơn đáng kể so với giá xuất khẩu gạo bình quân khoảng 459,6 USD/tấn.

Tuy nhiên, đây chỉ là phép so sánh tham khảo bởi hàng nhập khẩu bao gồm cả lúa thô, gạo và tấm, trong khi hàng xuất khẩu chủ yếu là gạo thành phẩm. Dù vậy, chênh lệch này phần nào cho thấy một xu hướng đáng chú ý: Việt Nam đang xuất khẩu những sản phẩm có giá trị cao hơn, đồng thời nhập một lượng đáng kể nguyên liệu có giá thấp hơn để phục vụ chế biến.

Campuchia là nguồn cung lúa gạo lớn

Trong số các thị trường cung cấp lúa gạo cho Việt Nam, Campuchia đứng đầu, tiếp đến là Ấn Độ, Lào, Thái Lan và Myanmar.

Trong 6 tháng đầu năm, riêng lượng lúa nhập từ Campuchia đạt khoảng 2,3 triệu tấn, chiếm phần lớn tổng lượng lúa gạo nhập khẩu.

Phần lớn nguồn nguyên liệu này được đưa về các nhà máy tại Đồng bằng sông Cửu Long để xay xát và chế biến.

Campuchia có lợi thế về vùng sản xuất nằm gần biên giới Việt Nam, trong khi Việt Nam sở hữu hệ thống nhà máy xay xát, kho bãi, cảng và logistics phát triển. Sự kết hợp này tạo điều kiện để doanh nghiệp đưa lúa nguyên liệu về Việt Nam, hoàn thiện sản phẩm rồi tiếp tục đưa ra thị trường.

Bên cạnh đó, theo bản tin của Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, một bộ phận doanh nghiệp và nông dân Việt Nam sang thuê đất tại Campuchia, tổ chức sản xuất các giống lúa quen thuộc rồi đưa sản phẩm về Việt Nam chế biến.

Giá thuê đất tại Campuchia được nêu khoảng 100-300 USD/ha, thấp hơn mức phổ biến 15-26 triệu đồng/ha tại Đồng bằng sông Cửu Long.

Việt Nam xuất khẩu gần 5,5 triệu tấn gạo trong 7 tháng năm 2026, trong khi nhập khẩu lúa gạo chủ yếu để phục vụ chế biến và cân đối nguồn nguyên liệu. Ảnh minh họa.

Nhập khẩu không đồng nghĩa Việt Nam thiếu gạo

Năm 2026, Việt Nam áp dụng hạn ngạch 300.000 tấn quy gạo có xuất xứ Campuchia được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt 0%.

Tuy nhiên, lúa gạo do phía Việt Nam đầu tư, tổ chức sản xuất tại Campuchia rồi nhập về được thực hiện theo quy định hiện hành và không tính vào lượng hạn ngạch này.

Do đó, không thể lấy con số 300.000 tấn để so sánh trực tiếp với toàn bộ lượng lúa gạo nhập khẩu từ Campuchia.

Ông Nguyễn Việt Anh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Lương thực Phương Đông, cho rằng cần nhìn nhận dòng lúa từ Campuchia ở cả góc độ tích cực.

Theo ông, một phần trong số đó là sản phẩm do người Việt tổ chức sản xuất tại Campuchia, sau đó nhập về Việt Nam dưới dạng nguyên liệu thô để xay xát. Với lợi thế về công nghệ chế biến và logistics, doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp tục tạo thêm giá trị trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.

Vì vậy, việc vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu lúa gạo không đồng nghĩa Việt Nam thiếu gạo.

Đây là hoạt động thương mại phổ biến trong nhiều ngành hàng: doanh nghiệp xuất khẩu những sản phẩm có giá trị và lợi thế cạnh tranh cao, đồng thời nhập nguyên liệu phù hợp hơn với từng nhu cầu sản xuất.

Gạo nhập khẩu được sử dụng vào đâu?

Một trong những vấn đề được quan tâm là: gạo nhập khẩu sau khi vào Việt Nam sẽ đi đâu và người tiêu dùng có nhận biết được nguồn gốc hay không?

Cơ cấu sản xuất lúa gạo trong nước đang chuyển mạnh sang các giống chất lượng cao như OM18, Đài Thơm 8, ST25 và Nàng Hoa, phù hợp với xuất khẩu hoặc phân khúc tiêu dùng có giá trị cao.

Trong khi đó, ngành chế biến vẫn cần một lượng lớn nguyên liệu có hàm lượng tinh bột cao, giá thành phù hợp để sản xuất bún, phở, bánh tráng, bột gạo và thức ăn chăn nuôi.

Đối với những sản phẩm này, việc sử dụng gạo thơm, chất lượng cao chưa chắc đã tối ưu về chi phí.

Ông Nguyễn Vĩnh Trọng, Giám đốc Công ty TNHH Việt Hưng tại Đồng Tháp, cho biết nguồn nguyên liệu nhập khẩu giá thấp chủ yếu phục vụ sản xuất bún, bánh, phở và thức ăn chăn nuôi.

Theo ông, mỗi ngành chế biến có yêu cầu riêng về độ khô, hàm lượng tinh bột và tỷ lệ tấm. Vì vậy, doanh nghiệp lựa chọn nguyên liệu dựa trên yêu cầu sản xuất thay vì chỉ căn cứ vào độ thơm hoặc độ dẻo như đối với gạo ăn trực tiếp.

Một phần lúa nhập khẩu cũng được xay xát để phục vụ tiêu dùng và chế biến trong nước. Doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn nguyên liệu này để cân đối sản xuất theo từng đơn hàng.

Tuy nhiên, hiện chưa có thống kê công khai cho biết trong tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 800 triệu USD có bao nhiêu được sử dụng cho thực phẩm, bao nhiêu dành cho thức ăn chăn nuôi hoặc chế biến để xuất khẩu.

Quảng cáo

Vì vậy, không nên mặc định toàn bộ lúa gạo nhập khẩu được đóng gói tại Việt Nam rồi bán ra nước ngoài, cũng chưa thể khẳng định phần lớn nguồn hàng này được đưa trực tiếp vào bữa ăn của người Việt.

Lúa nhập khẩu từ Campuchia được đưa về các nhà máy tại Đồng bằng sông Cửu Long để xay xát, chế biến và phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau. Ảnh minh họa.

Nguy cơ nào đối với giá lúa trong nước?

Nguồn nguyên liệu nhập khẩu giá thấp giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tận dụng công suất nhà máy và chủ động hơn trong sản xuất. Tuy nhiên, dòng hàng này cũng có thể tạo thêm sức ép đối với phân khúc lúa phổ thông trong nước, đặc biệt khi hai nguồn cung cùng xuất hiện vào thời điểm thu hoạch rộ.

Trong vụ Đông Xuân 2026, khi Đồng bằng sông Cửu Long bước vào cao điểm thu hoạch, Campuchia cũng đồng thời vào vụ và đưa lúa qua biên giới.

Có thời điểm, riêng tại Tây Ninh, lượng lúa nhập về được ghi nhận khoảng 1.000 tấn/ngày.

Các chuyên gia đánh giá chính sách xuất nhập khẩu linh hoạt giúp Việt Nam tận dụng lợi thế chế biến, logistics và củng cố vai trò trong chuỗi cung ứng lương thực.

Tuy nhiên, mặt trái là áp lực đối với hoạt động thu mua trong nước, nhất là khi đầu ra xuất khẩu chậm lại hoặc giá gạo thế giới giảm.

Mức độ tác động đến nông dân phụ thuộc vào thời điểm, khối lượng và chủng loại lúa gạo nhập khẩu.

Nếu nguồn nhập chủ yếu là những loại Việt Nam thiếu hoặc phục vụ chế biến công nghiệp, mức độ cạnh tranh trực tiếp với lúa nội địa có thể không lớn.

Ngược lại, nếu hàng nhập có phẩm cấp tương đương lúa trong nước và được đưa về đúng thời điểm thu hoạch rộ, giá thu mua nội địa có thể chịu thêm sức ép.

Dù vậy, cũng không thể quy toàn bộ nguyên nhân khiến giá lúa giảm cho hoạt động nhập khẩu. Giá lúa còn phụ thuộc vào nhu cầu của các thị trường lớn, giá gạo thế giới, tiến độ thu mua và khả năng dự trữ của doanh nghiệp.

Vấn đề đặt ra là cơ quan quản lý cần có thông tin chi tiết hơn về chủng loại, mục đích sử dụng và lượng lúa gạo nhập khẩu theo từng thị trường, đồng thời đánh giá cụ thể tác động của dòng hàng này đối với sản xuất trong nước.

Minh bạch xuất xứ: bài toán không thể xem nhẹ

Một câu hỏi khác có liên quan trực tiếp đến người tiêu dùng là liệu gạo nhập khẩu sau khi xay xát, đóng gói tại Việt Nam có được nhận diện rõ ràng hay không.

Theo quy định về nhãn hàng hóa, sản phẩm lưu thông phải thể hiện những thông tin cần thiết như tên hàng hóa, định lượng, đơn vị chịu trách nhiệm và xuất xứ.

Tuy nhiên, chuỗi cung ứng gạo phức tạp hơn một sản phẩm nhập khẩu nguyên bao bì.

Lúa có thể được nhập vào Việt Nam, sau đó trải qua các công đoạn xay xát, tách tấm, đánh bóng, phân loại hoặc phối trộn trước khi đóng gói.

Vì vậy, chỉ nhìn vào tên thương hiệu, hình ảnh cánh đồng hoặc địa chỉ doanh nghiệp trên bao bì, người mua không phải lúc nào cũng có thể xác định hạt gạo được trồng ở đâu.

Cố Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Võ Tòng Xuân từng cảnh báo việc nhập lúa gạo từ Campuchia cần được truy xuất rõ ràng, tránh tình trạng phối trộn thiếu minh bạch.

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng và xuất xứ, sự minh bạch không chỉ là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn liên quan trực tiếp đến uy tín của thương hiệu gạo Việt Nam.

Pháp luật không cấm doanh nghiệp phối trộn các loại gạo nếu sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm và được ghi nhãn trung thực.

Vấn đề phát sinh khi tên gọi, hình ảnh hoặc thông tin trên bao bì có thể khiến người mua hiểu sai về giống gạo, thành phần hoặc xuất xứ sản phẩm.

Người tiêu dùng cần chú ý thông tin về xuất xứ, giống gạo, đơn vị chịu trách nhiệm và mã truy xuất trên bao bì sản phẩm. Ảnh minh họa.

Người tiêu dùng cần đọc kỹ thông tin trên bao bì

Đối với người tiêu dùng, khi mua gạo nên kiểm tra các thông tin như tên và địa chỉ đơn vị chịu trách nhiệm, xuất xứ, giống gạo, ngày đóng gói, tiêu chuẩn chất lượng và mã truy xuất nguồn gốc nếu có.

Đặc biệt, các cụm từ như “đóng gói tại Việt Nam”, “sản xuất tại Việt Nam” và “gạo có xuất xứ Việt Nam” không hoàn toàn mang cùng một ý nghĩa.

Việc một sản phẩm được đóng gói tại Việt Nam không đương nhiên chứng minh nguyên liệu lúa được trồng tại Việt Nam.

Đối với lúa nhập khẩu được xay xát, chế biến hoặc phối trộn tại Việt Nam, doanh nghiệp phải xác định xuất xứ theo đúng quy định và chịu trách nhiệm về thông tin ghi trên nhãn.

Nếu sản phẩm tiếp tục được xuất khẩu, xuất xứ cũng phải đáp ứng quy tắc của thị trường nhập khẩu và các hiệp định thương mại liên quan.

Xuất khẩu giá trị cao, nhập nguyên liệu: cần minh bạch để phát triển bền vững

Khoản 800 triệu USD nhập khẩu lúa gạo không phải bằng chứng cho thấy Việt Nam thiếu gạo. Nhưng đây cũng không phải con số có thể xem nhẹ.

Dòng thương mại này phản ánh sự phân công ngày càng rõ trong ngành lúa gạo: xuất khẩu sản phẩm có giá trị cao, đồng thời nhập nguyên liệu có giá phù hợp để chế biến và tận dụng năng lực sản xuất, logistics.

Mô hình này có thể mang lại hiệu quả kinh tế nếu doanh nghiệp chủ động được nguồn nguyên liệu, giảm chi phí và nâng giá trị sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.

Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần bảo đảm đồng thời ba yêu cầu: không tạo sức ép bất hợp lý lên giá lúa trong nước; kiểm soát và truy xuất minh bạch nguồn gốc; đồng thời giúp người tiêu dùng nhận biết rõ sản phẩm mình đang mua.

Khi ba yếu tố này được bảo đảm, nhập khẩu nguyên liệu không nhất thiết là điểm yếu của ngành lúa gạo. Ngược lại, đây có thể trở thành một phần trong chiến lược tổ chức lại chuỗi giá trị, qua đó giúp Việt Nam vừa duy trì vị thế xuất khẩu, vừa tận dụng tốt hơn năng lực chế biến và thương mại nông sản.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm