Giá cà phê giảm tới 2.200 đồng/kg
Sau phiên tăng mạnh, thị trường cà phê trong nước ngày 9/7 bất ngờ đảo chiều. Tại khu vực Tây Nguyên, giá thu mua giảm từ 1.900 - 2.200 đồng/kg, đưa mặt bằng chung xuống còn 94.300 - 94.800 đồng/kg.
Cụ thể, khu vực Đắk Nông cũ, nay thuộc Lâm Đồng theo nội dung bài gốc, ghi nhận mức giảm mạnh nhất 2.200 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống 94.800 đồng/kg.
Tại Gia Lai, giá cà phê giảm 2.000 đồng/kg, còn 94.800 đồng/kg. Đắk Lắk cũng giảm 2.000 đồng/kg, xuống mức 94.700 đồng/kg.
Trong khi đó, Lâm Đồng ghi nhận mức giảm 1.900 đồng/kg, đưa giá cà phê về 94.300 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực được khảo sát.
Như vậy, chỉ một ngày sau khi tăng mạnh 3.900 - 4.000 đồng/kg, thị trường cà phê trong nước đã nhanh chóng đảo chiều. Dù vậy, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn đáng kể so với vùng 92.300 - 93.000 đồng/kg được ghi nhận vào đầu tuần.
Diễn biến này cho thấy thị trường cà phê tiếp tục trong trạng thái biến động mạnh, phản ánh rõ tác động từ xu hướng giá trên các sàn giao dịch quốc tế.
Cà phê thế giới lao dốc, Robusta mất mốc 4.000 USD/tấn
Cùng xu hướng với thị trường trong nước, giá cà phê thế giới đồng loạt giảm mạnh sau phiên tăng bùng nổ trước đó.
Trên sàn London, hợp đồng cà phê Robusta giao tháng 7/2026 giảm 4,23%, tương đương 172 USD/tấn, xuống còn 3.892 USD/tấn.
Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 4,25%, cũng mất 172 USD/tấn, về mức 3.872 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 4,19%, tương đương 168 USD/tấn, xuống còn 3.839 USD/tấn.
Với mức điều chỉnh này, giá Robusta nhanh chóng đánh mất mốc 4.000 USD/tấn vừa thiết lập trong phiên trước. Đáng chú ý, hợp đồng tháng 9/2026 trước đó từng tăng tới 328 USD/tấn chỉ trong một phiên, đạt 4.044 USD/tấn.
Biên độ tăng, giảm lớn trong thời gian ngắn cho thấy thị trường cà phê thế giới đang trải qua những phiên giao dịch nhiều biến động, kéo theo sự điều chỉnh nhanh chóng của giá thu mua trong nước.
Giá hồ tiêu đồng loạt tăng 1.000 đồng/kg
Trái ngược với cà phê, thị trường hồ tiêu trong nước ngày 9/7 ghi nhận tín hiệu tích cực khi giá tại các vùng sản xuất trọng điểm đồng loạt tăng trở lại sau nhiều phiên ổn định.
Mức tăng chung là 1.000 đồng/kg, đưa giá thu mua hồ tiêu trên thị trường lên khoảng 134.000 - 136.000 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và khu vực Đắk Nông cũ, nay thuộc Lâm Đồng theo nội dung bài gốc, giá hồ tiêu cùng tăng lên 136.000 đồng/kg. Đây tiếp tục là hai khu vực có mức thu mua cao nhất trong nhóm địa phương được khảo sát.
Tại Gia Lai và khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc TP Hồ Chí Minh theo bài gốc, giá hồ tiêu tăng 1.000 đồng/kg, đạt 135.000 đồng/kg.
Đồng Nai cũng tăng tương ứng 1.000 đồng/kg, lên mức 134.000 đồng/kg. Dù phục hồi theo xu hướng chung, đây vẫn là mức thấp nhất trong số các vùng sản xuất trọng điểm được khảo sát.
Sau giai đoạn giảm mạnh vào đầu tháng 7 và có thời điểm lùi về vùng thấp nhất trong khoảng một năm, việc giá hồ tiêu đồng loạt đi lên là tín hiệu đáng chú ý. Diễn biến này cho thấy áp lực bán ra có dấu hiệu giảm bớt, trong khi nhu cầu mua vào phần nào được cải thiện.
Giá lúa gạo ít biến động, giao dịch chậm
Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo ngày 9/7 nhìn chung ổn định. Hoạt động mua bán diễn ra chậm, giá nhiều chủng loại nguyên liệu xuất khẩu không có biến động lớn.
Giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động 8.950 - 9.050 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.400 - 9.600 đồng/kg; OM 5451 khoảng 9.500 - 9.600 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 được giao dịch ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 và Sóc thơm cùng dao động 7.500 - 7.600 đồng/kg. Trong khi đó, gạo thành phẩm IR 504 ở mức 10.750 - 10.900 đồng/kg.
Đối với nhóm phụ phẩm, giá giao dịch phổ biến trong khoảng 7.800 - 8.050 đồng/kg. Tấm thơm dao động 8.000 - 8.100 đồng/kg, còn giá cám ở mức 7.950 - 8.100 đồng/kg.
Giá gạo bán lẻ tiếp tục ổn định
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo nhìn chung đứng giá.
Gạo Nàng Nhen tiếp tục có mức niêm yết cao nhất, 28.000 đồng/kg. Gạo Hương Lài ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine khoảng 16.000 - 17.000 đồng/kg.
Gạo Nàng Hoa có giá 21.000 đồng/kg; gạo Đài Thơm dao động 14.500 - 15.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mức 16.000 đồng/kg.
Giá gạo thường phổ biến 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường khoảng 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg và gạo Nhật 22.000 đồng/kg.
Giá lúa tươi duy trì ổn định
Đối với mặt hàng lúa, giá lúa tươi IR 50404 dao động 5.550 - 5.700 đồng/kg.
Lúa Đài Thơm 8 tươi ở mức 6.300 - 6.500 đồng/kg; OM 18 tươi khoảng 6.400 - 6.600 đồng/kg; OM 34 tươi dao động 5.400 - 5.600 đồng/kg; OM 5451 tươi ở mức 5.700 - 5.800 đồng/kg.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo chưa ghi nhận biến động lớn, trong bối cảnh hoạt động giao dịch tại nhiều khu vực còn chậm.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam biến động trái chiều
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam diễn biến không đồng nhất giữa các chủng loại.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam được dẫn trong bài gốc, gạo Jasmine được chào bán ở mức 513 - 517 USD/tấn, giảm 3 USD/tấn.
Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm tăng 10 USD/tấn, dao động 510 - 520 USD/tấn. Gạo thơm 100% tấm giảm 1 USD/tấn, còn 348 - 352 USD/tấn.
Trên thị trường thế giới, giá gạo 5% tấm của Thái Lan dao động 478 - 482 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm ở mức 409 - 413 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, gạo 5% tấm được chào bán trong khoảng 350 - 354 USD/tấn, còn gạo 100% tấm ở mức 280 - 284 USD/tấn.
Diễn biến thị trường ngày 9/7 cho thấy sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm nông sản chủ lực. Trong khi cà phê chịu áp lực điều chỉnh mạnh sau phiên tăng nóng, hồ tiêu bắt đầu xuất hiện tín hiệu phục hồi. Với lúa gạo, mặt bằng giá tương đối ổn định nhưng sức mua còn chậm, trong khi giá xuất khẩu tiếp tục biến động theo từng phân khúc sản phẩm.
