Bộ Công Thương vừa có Quyết định số 2800/QĐ-BCT về phương án tạm thời điều phối, hỗ trợ nguồn vật liệu xây dựng thông thường giữa các tỉnh, thành phố phục vụ các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia.
Phương án nhằm bảo đảm nguồn vật liệu xây dựng đúng thời điểm, chất lượng và chi phí hợp lý cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm giai đoạn 2026-2030. Trước mắt, tập trung vào các dự án đường bộ cao tốc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các dự án tại tỉnh Cà Mau.
Đồng thời, xác định rõ địa phương cung cấp, địa phương tiếp nhận, loại vật liệu, khối lượng và trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân; làm cơ sở để các địa phương xác định mỏ cụ thể, cấp phép, nâng công suất và tổ chức cung ứng.
Theo phụ lục kèm quyết định, tổng khối lượng vật liệu được phân công điều phối gồm 306,35 triệu m3 đá xây dựng, 24,7 triệu m3 cát san lấp và 257,3 triệu m3 đất san lấp.
![]()
Đây là khối lượng tối thiểu các địa phương cung cấp có trách nhiệm bảo đảm cho cả giai đoạn, bao gồm cả khối lượng đã được cấp phép hoặc đang cung cấp cho các dự án tại địa phương tiếp nhận.
18 địa phương có thể hỗ trợ nguồn vật liệu cho các tỉnh khác
Theo kết quả rà soát nguồn vật liệu xây dựng thông thường tại 34 tỉnh, thành phố, Bộ Công Thương chia các địa phương thành ba nhóm dựa trên khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng.
Trong đó, nhóm có khả năng tự bảo đảm nguồn vật liệu và cung cấp cho địa phương khác gồm 18 tỉnh, thành phố: Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, TP Bắc Ninh, TP Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, TP Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng và Đồng Tháp.
Nhóm thứ hai gồm 10 địa phương thiếu một số loại vật liệu nhưng có thể tự cân đối thông qua nâng công suất khai thác, mở rộng, khai thác xuống sâu hoặc cấp phép mỏ mới. Danh sách gồm Lạng Sơn, Lào Cai, TP Hải Phòng, TP Huế, Đắk Lắk, Khánh Hòa, TP Đồng Nai, TP.HCM, Vĩnh Long và An Giang.
Nhóm thứ ba gồm 6 địa phương thiếu vật liệu, không thể tự cân đối và cần được điều phối từ các tỉnh, thành phố khác, gồm TP Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, TP Cần Thơ và Ninh Bình.
Bộ Công Thương cho biết việc phân nhóm phản ánh khả năng cân đối tổng thể, bởi một địa phương có thể thiếu loại vật liệu này nhưng vẫn có khả năng cung cấp loại vật liệu khác.
Chẳng hạn, TP.HCM, Đồng Nai và An Giang có khả năng cung cấp đá xây dựng; Vĩnh Long và Cần Thơ có khả năng cung cấp cát; Ninh Bình có thể cung cấp đá xây dựng và đất san lấp.
Trên cơ sở đó, phương án điều phối được tổ chức theo hai hành lang chính gồm Đồng bằng sông Cửu Long - Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng, nhằm huy động nguồn vật liệu giữa các địa phương phục vụ những công trình, dự án trọng điểm.
Đối với hành lang Đồng bằng sông Cửu Long - Đông Nam Bộ, nguồn đá xây dựng từ An Giang, TP.HCM và TP Đồng Nai được điều phối cho Cà Mau và TP Cần Thơ. Trong khi đó, nguồn cát từ TP Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp được huy động để hỗ trợ Tây Ninh và TP Đồng Nai.
Đối với hành lang Đồng bằng sông Hồng, đá xây dựng, đất san lấp từ Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An cung cấp cho TP Hà Nội. Đá xây dựng, đất san lấp từ Ninh Bình, TP Quảng Ninh, Tuyên Quang cung cấp cho Hưng Yên.
TP.HCM, Đồng Nai và An Giang cung cấp đá cho các dự án tại Cà Mau
Tại khu vực phía Nam, nhu cầu vật liệu đáng chú ý tập trung ở tỉnh Cà Mau, nơi đang triển khai các dự án giao thông và hạ tầng quan trọng.
Theo phương án, Cà Mau còn thiếu 22,1 triệu m3 đá xây dựng và 20,7 triệu m3 cát san lấp để phục vụ 4 dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư.
Các dự án gồm đường bộ cao tốc Cà Mau - Cái Nước, đường bộ cao tốc Cái Nước - Đất Mũi, đường giao thông nối ra Cảng Hòn Khoai và Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai.
Để đáp ứng nhu cầu đá xây dựng, Bộ Công Thương phân công TP.HCM cung cấp 10,5 triệu m3, Đồng Nai cung cấp 10,5 triệu m3 và An Giang cung cấp 1,1 triệu m3.
Trước mắt, TP.HCM và TP Đồng Nai có trách nhiệm bảo đảm nguồn cung. Riêng An Giang phải xây dựng phương án cung cấp 1,1 triệu m3 đá, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026.
Đối với cát san lấp, nguồn cung được phân bổ từ ba địa phương, gồm TP Cần Thơ 17,2 triệu m3, Đồng Tháp 2,3 triệu m3 và Vĩnh Long 1,2 triệu m3.
Ngoài hỗ trợ Cà Mau, TP.HCM còn được phân công cung cấp 2,5 triệu m3 đá xây dựng cho TP Cần Thơ để phục vụ dự án cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1.
Như vậy, tổng khối lượng đá xây dựng TP.HCM được giao cung cấp cho Cà Mau và Cần Thơ là 13 triệu m3.
Tây Ninh cần 15,6 triệu m3 cát cho Vành đai 4 và cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận
Tại Tây Ninh, nhu cầu đề nghị hỗ trợ được xác định là 15,6 triệu m3 cát san lấp, phục vụ dự án giao thông trọng điểm.
Trong đó, dự án đường Vành đai 4 TP.HCM đoạn qua tỉnh Tây Ninh cần 11,7 triệu m3 cát san lấp; dự án cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận cần 3,9 triệu m3.
![]()
Trước mắt, hai tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp được phân công mỗi địa phương cung cấp 2 triệu m3 cát san lấp, tổng cộng 4 triệu m3 cho Tây Ninh.
Như vậy, sau khi tính nguồn hỗ trợ ban đầu, Tây Ninh vẫn còn thiếu khoảng 11,6 triệu m3 cát san lấp cần tiếp tục cân đối.
Bộ Công Thương yêu cầu Tây Ninh ưu tiên sử dụng nguồn đất san lấp và cát sông tại chỗ, đồng thời rà soát khả năng cung ứng, báo cáo kết quả trước ngày 30/11/2026.
Trường hợp vẫn thiếu vật liệu, Bộ Công Thương sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương án bổ sung trên cơ sở kết quả Đề án điều tra, đánh giá tiềm năng cát, cuội, sỏi lòng sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hà Nội thiếu hơn 800 triệu m3 vật liệu xây dựng
Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, phương án điều phối tập trung vào việc hỗ trợ vật liệu xây dựng cho TP Hà Nội và Hưng Yên.
Theo kết quả rà soát, Hà Nội đang thiếu 272,25 triệu m3 đá xây dựng, 320,19 triệu m3 cát và 243,88 triệu m3 đất san lấp.
Để đáp ứng nhu cầu đá xây dựng, Bộ Công Thương phân công 6 địa phương cung cấp cho Hà Nội, gồm Phú Thọ 100 triệu m3, Ninh Bình 50 triệu m3, Thái Nguyên 50 triệu m3, Thanh Hóa 30 triệu m3, Tuyên Quang 22 triệu m3 và Nghệ An 20,25 triệu m3.
Đối với đất san lấp, Hà Nội được phân bổ tổng cộng 244 triệu m3, gồm Phú Thọ 70 triệu m3, Bắc Ninh 60 triệu m3, Ninh Bình 60 triệu m3, Thái Nguyên 34 triệu m3 và Tuyên Quang 20 triệu m3.
Riêng nguồn cát, Hà Nội được định hướng sử dụng vật liệu thu hồi từ dự án nạo vét lòng dẫn, cải thiện khả năng thoát lũ và bảo đảm giao thông thủy nội địa sông Hồng đoạn qua địa bàn thành phố.
UBND TP Hà Nội phải báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026 về tiến độ chuẩn bị dự án, đồng thời xác định nhu cầu cát cấp bách giai đoạn 2026-2027 chưa được bảo đảm để xem xét điều phối bổ sung.
Tại Hưng Yên, nhu cầu còn thiếu gồm 9,5 triệu m3 đá xây dựng, 20 triệu m3 cát san lấp và 13,3 triệu m3 đất san lấp.
Theo phương án, Ninh Bình được phân công cung cấp 9,5 triệu m3 đá xây dựng cho Hưng Yên.
Đối với cát san lấp, tỉnh Hưng Yên phải rà soát, bổ sung quy hoạch và cấp mới các khu vực có tiềm năng, với quy mô dự kiến khoảng 89,5 triệu m3 theo cơ chế đặc thù.
Về đất san lấp, Hưng Yên sẽ làm việc với TP Quảng Ninh, Ninh Bình và Tuyên Quang để thống nhất khối lượng cung cấp, bao gồm cả nguồn đất đá thải mỏ than, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026.
Trong khi đó, Ninh Bình thiếu 348,31 triệu m3 cát xây dựng và cát san lấp nhưng chưa xác định riêng nhu cầu của các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm. Bộ Công Thương yêu cầu địa phương xác định nhu cầu theo từng dự án, từng năm và nguồn đề xuất hỗ trợ, báo cáo trước ngày 15/11/2026.
Yêu cầu rà soát các mỏ vật liệu, thu hồi giấy phép vi phạm trước ngày 30/10
Bên cạnh phương án phân bổ nguồn cung, Bộ Công Thương cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý hoạt động khai thác, vận chuyển và cung ứng vật liệu xây dựng.
![]()
Theo đó, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải rà soát ngay các mỏ vật liệu xây dựng trên địa bàn, xử lý nghiêm các vi phạm và thu hồi giấy phép đã cấp nhưng không thực hiện đúng quy định để cấp cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công. Kết quả rà soát phải được báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/10/2026, đồng thời gửi Bộ Công Thương.
Các địa phương cũng phải rà soát những mỏ đang khai thác để xem xét điều chỉnh công suất đối với trường hợp đủ điều kiện; ưu tiên giải quyết hồ sơ cấp mới, gia hạn, nâng công suất hoặc điều chỉnh giấy phép phục vụ phương án điều phối.
Đáng chú ý, Bộ Công Thương yêu cầu các địa phương không đặt thêm thủ tục, điều kiện, khoản thu hoặc trì hoãn giải quyết hồ sơ đối với trường hợp cung cấp vật liệu cho địa bàn khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định.
Việc khai thác, vận chuyển và cung cấp vật liệu cho các công trình, dự án tại địa phương khác theo phương án cũng không được hạn chế trái quy định.
Đối với giá vật liệu, các tổ chức, cá nhân khai thác phải thực hiện kê khai, niêm yết và công khai theo quy định, không được lợi dụng phương án điều phối để đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý.
Bộ Công Thương đồng thời khuyến khích sử dụng các nguồn vật liệu thay thế đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, bao gồm đất đá thải mỏ và cát biển theo quy định.
Về tiến độ, chủ đầu tư, nhà đầu tư và nhà thầu phải xác định nhu cầu vật liệu theo từng chủng loại, khối lượng, chất lượng và tiến độ từng năm, gửi địa phương tiếp nhận trước ngày 5/11/2026.
Các địa phương tiếp nhận có trách nhiệm phối hợp xác định danh mục mỏ cụ thể, khối lượng cung cấp theo từng năm, dự án sử dụng và tuyến vận chuyển, gửi Bộ Công Thương trước ngày 10/11/2026.
Trường hợp địa phương cung cấp không bảo đảm được khối lượng phân công, UBND tỉnh, thành phố phải báo cáo Bộ Công Thương trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày xác định được nguyên nhân, đồng thời đề xuất nguồn thay thế.
Theo quyết định, phương án tạm thời có hiệu lực từ ngày 24/10/2026 và được thực hiện cho đến khi được điều chỉnh, thay thế hoặc khi cơ quan, người có thẩm quyền ban hành phương án điều phối mới theo quy định.
Thiên An
