Vĩnh Long đưa công nghệ cao vào sản xuất, nâng tầm giá trị nông sản

Từ chế biến sâu khoảng 1 triệu trái dừa mỗi ngày, sản xuất cây giống bằng công nghệ sinh học đến nuôi tôm kiểm soát môi trường bằng công nghệ, nhiều mô hình tại Vĩnh Long đang cho thấy hiệu quả rõ nét của khoa học, công nghệ trong nông nghiệp. Từ những mô hình này, địa phương hướng tới nhân rộng cách làm hiệu quả, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường Vĩnh Long tập trung chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng, triển khai và nhân rộng các mô hình khuyến nông, mô hình phát triển sản xuất phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng.

Điểm chung trong định hướng này là gắn sản xuất với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đồng thời hướng tới nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thực tế tại nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hộ nông dân cho thấy, công nghệ đang từng bước đi sâu vào các khâu từ giống, nuôi trồng đến chế biến. Quan trọng hơn, sự thay đổi không chỉ nằm ở máy móc, thiết bị mà còn thể hiện trong cách tổ chức sản xuất, quản lý chất lượng và liên kết thị trường.

Ứng dụng khoa học, công nghệ đang mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp Vĩnh Long, từ sản xuất giống, nuôi trồng đến chế biến sâu nông sản. Ảnh internet

Chế biến sâu để nâng giá trị trái dừa

Câu chuyện tại Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới, KCN An Hiệp, xã Phú Túc, là một trong những ví dụ về ứng dụng công nghệ để gia tăng giá trị nông sản.

Thay vì dừng ở tiêu thụ nguyên liệu thô, nguồn dừa được đưa vào chuỗi sơ chế, chế biến sâu để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

Theo ông Cù Văn Thành, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới, để chuỗi sản xuất phát triển bền vững, doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định, trong khi người nông dân cần đầu ra lâu dài.

Hai bên vì vậy phải hình thành mối liên kết dựa trên chất lượng và lợi ích bền vững. Khi sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn, thị trường được mở rộng, giá trị của trái dừa cũng được nâng lên.

Hiện mỗi ngày doanh nghiệp sơ chế và chế biến sâu khoảng 1 triệu trái dừa.

Với quy mô nhà máy 8ha, doanh thu năm 2025 ước đạt trên 4.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp hơn 130 triệu USD. Doanh nghiệp đặt mục tiêu chiến lược đạt 300 triệu USD vào năm 2030.

Để tiếp tục mở rộng sản xuất, Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới dự kiến đầu tư kho thông minh tự động hóa hoàn toàn với tổng vốn trên 70 tỷ đồng. Hệ thống này được kỳ vọng giúp tối ưu diện tích lưu trữ và nâng cao năng lực quản trị theo chuẩn quốc tế.

Doanh nghiệp cũng đang có nhu cầu quỹ đất sạch để triển khai dự án trị giá khoảng 1.200 tỷ đồng. Nếu dự án được triển khai, doanh thu được kỳ vọng tăng mạnh từ năm 2028.

Từ một trái dừa nguyên liệu đến sản phẩm chế biến sâu, câu chuyện tại doanh nghiệp cho thấy công nghệ có thể trở thành mắt xích quan trọng giúp nông sản địa phương gia tăng giá trị và tiếp cận thị trường rộng hơn.

Dây chuyền chế biến sâu giúp nâng cao giá trị trái dừa, mở rộng khả năng phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng và phục vụ xuất khẩu. Ảnh internet

Công nghệ sinh học bắt đầu từ chất lượng cây giống

Nếu chế biến sâu giúp nâng giá trị ở cuối chuỗi sản xuất thì tại Công ty TNHH Công nghệ Sinh học ViGen, xã Chợ Lách, công nghệ được ứng dụng ngay từ khâu đầu tiên: cây giống.

Doanh nghiệp đang sử dụng công nghệ sinh học để tạo nguồn giống cây trồng chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Với hệ thống phòng thí nghiệm rộng khoảng 1.500m² cùng 4 cơ sở sản xuất có tổng diện tích hơn 70.000m², doanh nghiệp từng bước hình thành quy trình sản xuất khép kín, hướng tới cung cấp nguồn cây giống đồng đều, sạch bệnh và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Theo lãnh đạo Công ty TNHH Công nghệ Sinh học ViGen, đầu tư vào công nghệ sinh học là hướng đi lâu dài bởi chất lượng giống có vai trò quan trọng đối với năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất.

Muốn phát triển nông nghiệp bền vững phải bắt đầu từ giống, quy trình sản xuất và khả năng kiểm soát chất lượng ngay từ đầu.

Ứng dụng công nghệ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất, đồng thời tạo ra nguồn giống phù hợp với yêu cầu của thị trường.

Đây cũng là một cách tiếp cận cho thấy nông nghiệp công nghệ cao không nhất thiết bắt đầu từ những dây chuyền quy mô lớn. Công nghệ có thể hiện diện ngay từ một cây giống khỏe, sạch bệnh và có chất lượng đồng đều trước khi được đưa ra đồng ruộng.

Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới hiện sơ chế và chế biến sâu khoảng 1 triệu trái dừa mỗi ngày. Ảnh internet

Người nuôi tôm làm chủ công nghệ

Cùng với chế biến dừa và sản xuất cây giống, mô hình nuôi tôm công nghệ cao của hộ ông Đặng Văn Bảy (Bảy An), xã Thạnh Hải, cho thấy công nghệ đang ngày càng gần hơn với người nông dân.

Quảng cáo

Theo ông Bảy, nuôi tôm bằng phương thức truyền thống tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt trước biến động của thời tiết, môi trường nước và dịch bệnh.

Vì vậy, ứng dụng công nghệ vào từng khâu của quy trình nuôi trở thành một yêu cầu thực tế.

Yếu tố quan trọng trong nuôi tôm công nghệ cao là khả năng kiểm soát môi trường. Người nuôi phải thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu nước, quản lý thức ăn, mật độ nuôi và kịp thời xử lý những bất thường phát sinh.

Điểm đáng chú ý của mô hình Bảy An là người nông dân từ thực tiễn sản xuất đã trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi phương thức canh tác.

Công nghệ không còn là khái niệm xa vời mà trở thành công cụ trực tiếp giúp người nuôi quản lý sản xuất, kiểm soát rủi ro và đưa ra quyết định dựa trên dữ liệu, quy trình thay vì chủ yếu dựa vào kinh nghiệm.

Đây cũng là một trong những giá trị quan trọng của quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ vào nông nghiệp: giúp người sản xuất chủ động hơn trước những yếu tố khó lường của môi trường và biến đổi khí hậu.

Công nghệ không chỉ là máy móc

Trong chuyến khảo sát các mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất trên địa bàn tỉnh, ông Nguyễn Minh Dũng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, đánh giá cao tinh thần đổi mới, sáng tạo của doanh nghiệp và người dân trong ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp.

Thực tế từ các mô hình cho thấy nông nghiệp công nghệ cao không đơn thuần là đưa thêm máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất.

Giá trị lớn hơn nằm ở sự thay đổi tư duy, tổ chức lại quy trình sản xuất, kiểm soát tốt hơn chất lượng và cuối cùng là tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.

“Điều quan trọng là phải làm sao để những mô hình hiệu quả không chỉ dừng lại ở một doanh nghiệp, một hộ dân, mà có thể lan tỏa, nhân rộng. Khi người dân nhìn thấy hiệu quả thực tế và mạnh dạn áp dụng thì công nghệ mới thực sự đi vào sản xuất”, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Minh Dũng nhấn mạnh.

Đây cũng chính là bài toán đặt ra đối với quá trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Một mô hình thành công có ý nghĩa, nhưng khả năng chuyển giao và nhân rộng mới quyết định mức độ tác động tới cả một vùng sản xuất.

Hệ thống phòng thí nghiệm và khu sản xuất giúp Công ty TNHH Công nghệ Sinh học ViGen từng bước hình thành quy trình sản xuất cây giống khép kín. Ảnh internet

Nhân rộng phải gắn với lợi thế từng vùng

Theo Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Minh Dũng, phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần dựa trên lợi thế của từng vùng, từng ngành hàng và đặt trong mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước.

“Nông nghiệp muốn phát triển thì phải gắn sản xuất với thị trường. Công nghệ phải phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra giá trị cao hơn cho nông dân. Doanh nghiệp phải đóng vai trò dẫn dắt trong liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ”, ông Nguyễn Minh Dũng cho biết.

Từ thực tế các mô hình đang triển khai có thể thấy, mỗi lĩnh vực cần một giải pháp công nghệ khác nhau.

Với ngành dừa, đó là chế biến sâu, tự động hóa và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định. Với cây giống, công nghệ sinh học giúp kiểm soát chất lượng ngay từ đầu chuỗi sản xuất. Trong nuôi tôm, công nghệ lại giúp kiểm soát môi trường, dịch bệnh và giảm những rủi ro trong quá trình nuôi.

Điểm gặp nhau của các mô hình là công nghệ phải giải quyết được vấn đề thực tế của sản xuất và cuối cùng tạo ra giá trị kinh tế cao hơn.

Ứng dụng công nghệ giúp người nuôi tôm chủ động theo dõi môi trường nước, quản lý thức ăn, mật độ nuôi và hạn chế rủi ro dịch bệnh. Ảnh internet

Từ mô hình điểm đến nền nông nghiệp hiện đại

Việc nhân rộng những mô hình hiệu quả đang mở ra cơ hội để Vĩnh Long khai thác tốt hơn lợi thế của từng vùng sản xuất, đồng thời nâng cao giá trị các ngành hàng nông nghiệp.

Để quá trình này đi xa, công nghệ cần được đặt trong một hệ sinh thái sản xuất hoàn chỉnh, từ giống, vùng nguyên liệu, quy trình canh tác, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm.

Trong đó, doanh nghiệp có vai trò dẫn dắt thị trường và đầu tư công nghệ; nhà khoa học cung cấp giải pháp; hợp tác xã kết nối sản xuất; Nhà nước tạo môi trường và cơ chế hỗ trợ, còn nông dân là chủ thể trực tiếp ứng dụng.

Khi những mắt xích này được kết nối, một mô hình công nghệ cao sẽ không còn là điểm sáng riêng lẻ mà có khả năng tạo chuyển biến cho cả vùng sản xuất.

Từ những dây chuyền chế biến dừa, phòng thí nghiệm cây giống đến ao nuôi tôm công nghệ cao, Vĩnh Long đang từng bước đưa khoa học và công nghệ trở thành một phần của sản xuất nông nghiệp.

Đích đến không chỉ là năng suất cao hơn, mà là một nền nông nghiệp có khả năng kiểm soát chất lượng, gia tăng giá trị, tiết kiệm nguồn lực và thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu. Đó cũng là nền tảng để nông nghiệp địa phương chuyển từ những mô hình công nghệ cao riêng lẻ sang một phương thức sản xuất hiện đại, xanh và bền vững hơn.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm