Từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến quy mô lớn
Những năm qua, phát triển công nghiệp chế biến ngày càng được xác định là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Thay vì chủ yếu tiêu thụ sản phẩm thô, ngành nông nghiệp của tỉnh đã chú trọng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sơ chế, bảo quản và chế biến, từng bước gắn sản xuất với nhu cầu của thị trường.
Từ những cơ sở sơ chế, bảo quản ban đầu, trên địa bàn đã hình thành một số doanh nghiệp có quy mô chế biến lớn, tạo thêm đầu ra cho nông sản và hướng tới thị trường ngoài tỉnh, xuất khẩu.
Hiện toàn tỉnh có 51 doanh nghiệp chế biến nông sản, hoạt động trên nhiều lĩnh vực.
Riêng chế biến lúa gạo có 7 doanh nghiệp, tổng công suất đạt 235.000 tấn/năm. Bên cạnh đó là một cơ sở chế biến sữa gạo lứt giàu protein với công suất 120 triệu hộp loại 250ml/năm.
Lĩnh vực rau quả có 10 doanh nghiệp với tổng công suất khoảng 21.500 tấn/năm. Trong đó, chế biến trái cây có 6 doanh nghiệp, tập trung chủ yếu vào sản phẩm dứa đóng hộp, tổng công suất đạt 13.600 tấn/năm.
Đối với thịt gia súc, gia cầm, toàn tỉnh hiện có 3 doanh nghiệp chế biến. Trong đó, 2 doanh nghiệp chuyên chế biến lợn sữa xuất khẩu với công suất từ 1.000 - 1.500 con/ngày; một doanh nghiệp chế biến gia cầm xuất khẩu với công suất 2.500 con/giờ.
Những con số này cho thấy chế biến nông sản đang dần chuyển từ quy mô nhỏ sang sản xuất công nghiệp, tạo tiền đề để nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Công nghệ tạo thêm giá trị cho nông sản
Sự hình thành của các cơ sở chế biến quy mô lớn không chỉ giải quyết đầu ra mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chất lượng nguyên liệu, quy trình sản xuất và khả năng liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã.
Để đáp ứng yêu cầu đó, một số doanh nghiệp đã chủ động đầu tư công nghệ vào các khâu chế biến và bảo quản.
Công ty CP Mía đường Lam Sơn ứng dụng công nghệ sấy trong chế biến lúa gạo. Công ty CP Thương mại Phong cách mới đưa công nghệ sấy và bảo quản đông lạnh vào sản xuất.
Một số cơ sở khác ứng dụng công nghệ lên men trong sản xuất nem, công nghệ vi sinh trong sản xuất sữa chua. Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật giúp kéo dài thời gian bảo quản, nâng cao chất lượng và tạo thêm giá trị cho sản phẩm nông nghiệp.
Đây cũng là bước chuyển quan trọng trong bối cảnh thị trường ngày càng yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính ổn định của sản phẩm.
218 kho bảo quản góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch
Song song với chế biến, hệ thống kho bảo quản nông sản trên địa bàn tỉnh cũng từng bước được đầu tư.
Hiện toàn tỉnh có 218 kho bảo quản nông sản với tổng công suất 49.536 tấn.
Trong đó, có 184 kho cấp đông, trữ lạnh thủy sản với tổng công suất 42.811 tấn; 19 kho bảo quản nông sản công suất 5.475 tấn và 15 kho bảo quản đá lạnh với công suất 1.250 tấn.
Phần lớn hệ thống kho được doanh nghiệp đầu tư nhằm phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Việc mở rộng năng lực bảo quản có ý nghĩa quan trọng đối với nông sản có tính mùa vụ. Thay vì phải tiêu thụ trong thời gian ngắn sau thu hoạch, sản phẩm có thể được bảo quản lâu hơn, qua đó giảm áp lực bán hàng trong thời điểm nguồn cung tăng cao.
Hệ thống kho lạnh cũng giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong thu mua nguyên liệu, tổ chức chế biến và lựa chọn thời điểm đưa sản phẩm ra thị trường, góp phần hạn chế tổn thất sau thu hoạch.
Thu hút doanh nghiệp gắn với phát triển vùng nguyên liệu
Để tạo thêm động lực cho ngành chế biến, ngành nông nghiệp và các địa phương đang tiếp tục tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp có năng lực đầu tư vào lĩnh vực này.
Định hướng ưu tiên là các dự án ứng dụng công nghệ hiện đại, chế biến sâu, tạo sản phẩm mới và có thị trường tiêu thụ ổn định.
Tuy nhiên, phát triển nhà máy chế biến phải đi cùng vùng nguyên liệu. Khi doanh nghiệp đầu tư dây chuyền quy mô lớn, yêu cầu về sản lượng, chất lượng và tính đồng đều của nguyên liệu cũng cao hơn.
Do đó, cùng với thu hút đầu tư, ngành nông nghiệp chú trọng hỗ trợ hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao chất lượng ngay từ khâu sản xuất; xây dựng mã số vùng trồng, thực hiện truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
Cách tiếp cận này hướng tới hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất - thu mua - bảo quản - chế biến - tiêu thụ, qua đó tạo nền tảng ổn định hơn cho cả doanh nghiệp và người sản xuất.
Hướng tới những tổ hợp sản xuất, chế biến quy mô lớn
Nhu cầu đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản trên địa bàn vẫn còn nhiều dư địa.
Theo Tổng Giám đốc Công ty CP Tập đoàn Xuân Thiện Nguyễn Huy Hoàng, từ những kết quả bước đầu của các dự án chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao tại các xã Minh Sơn và Nguyệt Ấn, doanh nghiệp mong muốn tiếp tục đầu tư hình thành khu sản xuất, chế biến nông sản và chăn nuôi tập trung quy mô lớn.
Theo định hướng của doanh nghiệp, khu vực này có thể bao gồm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhà máy chế biến thịt, nhà máy sản xuất phân vi sinh cùng các hạng mục liên quan.
Nếu hình thành được các tổ hợp sản xuất - chế biến đồng bộ, nông sản không chỉ được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu mà có thể tiếp tục đi qua nhiều công đoạn để tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn.
Chế biến sâu mở đường nâng sức cạnh tranh nông sản
Với tiềm năng nguyên liệu còn lớn, cùng sự quan tâm đầu tư của doanh nghiệp và yêu cầu ngày càng cao từ thị trường, chế biến nông sản được kỳ vọng trở thành một trong những động lực nâng cao giá trị ngành nông nghiệp.
Phát triển chế biến không chỉ giúp giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng giá trị sản phẩm, mà còn góp phần giải quyết bài toán đầu ra, mở rộng thị trường, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Quan trọng hơn, khi vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn và chế biến được đầu tư theo chiều sâu, nông sản có thêm cơ hội chuyển từ sản phẩm nguyên liệu sang hàng hóa có thương hiệu và sức cạnh tranh cao hơn.
Đây cũng là hướng đi quan trọng để các địa phương khai thác hiệu quả lợi thế nông nghiệp, hình thành những chuỗi giá trị bền vững và từng bước đưa nông sản tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao.
