Tích hợp nguồn lực, tăng quyền chủ động cho địa phương
Một trong những thay đổi đáng chú ý trong giai đoạn 2026 - 2030 là việc tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia trước đây, qua đó hướng tới thống nhất nguồn lực, hạn chế trùng lặp trong đầu tư và nâng cao hiệu quả thực hiện tại cơ sở.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, từ đầu năm 2026 đến nay, các cơ quan chức năng đã hoàn thiện 54 văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình, tạo nền tảng pháp lý để các bộ, ngành và địa phương tổ chức triển khai. Sổ tay hướng dẫn chương trình cũng đã được ban hành; đa số tỉnh, thành phố đã thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh.
Điểm mới nổi bật là cơ chế phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh. Trung ương tập trung quản lý mục tiêu, chính sách, đồng thời thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Trong khi đó, địa phương được chủ động hơn trong tổ chức thực hiện theo nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”.
Cách tiếp cận này được kỳ vọng giúp chính sách sát hơn với điều kiện thực tế của từng địa bàn, đồng thời nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong lựa chọn dự án, phân bổ nguồn lực và đánh giá hiệu quả đầu tư.
Cùng với đổi mới cơ chế quản lý, bộ tiêu chí nông thôn mới được điều chỉnh từ 19 nhóm tiêu chí của giai đoạn trước xuống còn 10 nhóm tiêu chí. Chuẩn nghèo cũng được sửa đổi để phù hợp hơn với mức sống thực tế.
Nguồn lực của chương trình được xác định ưu tiên cho những khu vực còn nhiều khó khăn, hạn chế tình trạng lồng ghép dàn trải và đặc biệt không huy động quá sức dân.
Khoảng 423 nghìn tỷ đồng cho giai đoạn 2026 - 2030
Tổng ngân sách nhà nước dự kiến bố trí cho chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 423 nghìn tỷ đồng.
Trong đó, ngân sách trung ương bảo đảm khoảng 100 nghìn tỷ đồng; ngân sách địa phương khoảng 300 nghìn tỷ đồng; phần còn lại được huy động từ nguồn tín dụng chính sách.
Nguồn vốn sẽ ưu tiên cho các xã đặc biệt khó khăn, xã an toàn khu, khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Việc xác định rõ địa bàn ưu tiên được kỳ vọng giúp nguồn lực đầu tư đi đúng những nơi đang cần hỗ trợ nhất, từ phát triển hạ tầng, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập đến cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu của người dân.
Phấn đấu 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2030
Chương trình đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Theo đó, cả nước phấn đấu có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại và 5 tỉnh, thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Song song với xây dựng nông thôn mới, mục tiêu giảm nghèo tiếp tục được đặt ở vị trí quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trên phạm vi cả nước dự kiến giảm bình quân từ 1 - 1,5% mỗi năm; riêng tỷ lệ hộ nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phấn đấu giảm xuống dưới 10%.
Như vậy, thước đo của chương trình không chỉ nằm ở số xã đạt chuẩn hay số công trình hạ tầng được đầu tư, mà còn gắn trực tiếp với thu nhập, sinh kế và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người dân.
Các địa phương chủ động đặt mục tiêu cho giai đoạn mới
Tại thành phố Đồng Nai, quá trình triển khai chương trình còn đứng trước một số khó khăn như dân số dân tộc thiểu số chiếm 9,4%, quy hoạch bô-xít và đất lâm nghiệp còn chồng lấn, trong khi hạ tầng số tại khu vực nông thôn chưa đồng bộ.
Dù vậy, địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó ít nhất 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; đồng thời phấn đấu cơ bản không còn hộ nghèo A và không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Đồng Nai Nguyễn Thị Hoàng cho biết, chương trình được xác định là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Trong giai đoạn 2026 - 2030, thành phố dự kiến ban hành các cơ chế đặc thù về liên kết sản xuất, phát triển sản phẩm OCOP, tín dụng và sản xuất an toàn, tạo thêm động lực cho khu vực nông thôn.
Tại Ninh Bình, Ban Chỉ đạo chương trình đã được thành lập ở cả cấp tỉnh và cấp xã. Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030, thu nhập của người dân nông thôn tăng gấp 2,5 - 3 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 1%; có từ 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và phát triển thêm 200 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên.
Trong khi đó, Tây Ninh đã hoàn thành việc xác định địa bàn thụ hưởng, đồng thời tập trung vào chuyển đổi số, đào tạo nghề và hỗ trợ sinh kế.
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Lê Văn Hẳn, dù quá trình triển khai còn gặp khó khăn do một số cơ chế hướng dẫn của Trung ương chưa được ban hành đầy đủ, địa phương vẫn đặt mục tiêu đưa 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới; giảm 20% số hộ nghèo có khả năng lao động; nâng tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sạch lên từ 76% trở lên và tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 90%.
Hướng tới nông thôn phát triển thực chất, bền vững
Việc tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026 - 2030 cho thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận chính sách: thay vì triển khai các nguồn lực tương đối tách biệt, chương trình mới hướng đến sự phối hợp đồng bộ giữa xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo, phát triển sinh kế và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Với nguồn lực khoảng 423 nghìn tỷ đồng cùng cơ chế phân cấp mạnh hơn, hiệu quả của chương trình sẽ phụ thuộc đáng kể vào năng lực tổ chức thực hiện tại từng địa phương. Việc lựa chọn đúng đối tượng, đầu tư đúng nhu cầu, hạn chế dàn trải và bảo đảm người dân thực sự được hưởng lợi sẽ là những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của chương trình trong 5 năm tới.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là hoàn thành các tiêu chí, mà là tạo ra những vùng nông thôn có sinh kế ổn định hơn, hạ tầng tốt hơn, khoảng cách phát triển từng bước được thu hẹp và chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên một cách bền vững.
