Nghị định 109 đặt chứng nhận vào trung tâm của sản xuất hữu cơ
Nghị định 109/2018/NĐ-CP của Chính phủ về nông nghiệp hữu cơ là khung pháp lý quan trọng đối với hoạt động sản xuất, chứng nhận, ghi nhãn, truy xuất nguồn gốc, kinh doanh và kiểm tra sản phẩm hữu cơ. Quy định áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến sản xuất, kinh doanh nông nghiệp hữu cơ.
Theo quy định, sản phẩm hữu cơ được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ áp dụng. Đối với sản phẩm sản xuất để xuất khẩu, tổ chức, cá nhân cần lựa chọn tiêu chuẩn và tổ chức chứng nhận phù hợp với yêu cầu của thị trường mục tiêu. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi việc đáp ứng một tiêu chuẩn hoặc có một chứng nhận không mặc nhiên đồng nghĩa sản phẩm sẽ đáp ứng toàn bộ yêu cầu của mọi thị trường xuất khẩu.
Quy định cũng đặt ra yêu cầu đối với việc sử dụng thông tin, dấu hiệu liên quan đến sản phẩm hữu cơ trên nhãn hàng hóa. Việc thể hiện sản phẩm là “hữu cơ” phải phù hợp với tiêu chuẩn và quy định áp dụng. Sản phẩm hữu cơ của Việt Nam cũng phải đáp ứng các yêu cầu về ghi nhãn, thông tin chứng nhận và truy xuất nguồn gốc theo quy định. Vì vậy, chứng nhận không chỉ liên quan đến quá trình sản xuất mà còn gắn với cách doanh nghiệp ghi nhãn, cung cấp thông tin và kiểm soát nguồn gốc sản phẩm.
![]()
Doanh nghiệp phải chuẩn hóa từ vùng nguyên liệu đến chứng nhận
Thông tư 16/2019/TT-BNNPTNT quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 109/2018/NĐ-CP, trong đó có hoạt động đăng ký tổ chức chứng nhận, đánh giá để cấp chứng nhận, giám sát sau chứng nhận, lấy mẫu và thử nghiệm. Cách quản lý này cho thấy việc duy trì sản xuất hữu cơ gắn với quá trình đánh giá và kiểm soát liên tục, thay vì chỉ hoàn thành một bộ hồ sơ tại thời điểm xin chứng nhận.
Thực tế tại Công ty TNHH Trà Vinh Farm, đơn vị phát triển thương hiệu Sokfarm, cho thấy chứng nhận được gắn với định hướng thị trường cụ thể. Theo thông tin doanh nghiệp công bố, đơn vị được chứng nhận hữu cơ theo các tiêu chuẩn USDA, EU và JAS từ năm 2022 và tiếp tục tái đánh giá các tiêu chuẩn này trong năm 2025. Cũng theo doanh nghiệp, năm 2025 đơn vị thu mua hơn 1.000 tấn mật hoa dừa hữu cơ nguyên liệu và đưa ra thị trường hơn 800.000 đơn vị sản phẩm.
Ở một trường hợp khác, Công ty Cổ phần Thực phẩm Cánh Đồng Việt (VietFarm), thành viên của GC Food, đã áp dụng các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế trong hoạt động sản xuất và chế biến nha đam. Theo thông tin doanh nghiệp công bố, VietFarm đạt 3 chứng nhận USDA Organic, EU Organic và JAS Organic. Riêng với JAS Organic, doanh nghiệp cho biết quy trình sơ chế, chế biến nha đam được kiểm soát về nguyên liệu, vệ sinh, phân tách sản phẩm và hồ sơ kỹ thuật. GC Food hiện công bố nhà máy VietFarm có năng lực sản xuất trên 30.000 tấn thạch nha đam mỗi năm.
Từ góc độ doanh nghiệp, việc chuẩn hóa vì thế cần được thực hiện xuyên suốt từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, hồ sơ, truy xuất đến sản phẩm cuối cùng. Khi lựa chọn tiêu chuẩn, doanh nghiệp cũng cần xác định trước thị trường mục tiêu để tránh tình trạng sản phẩm đã được chứng nhận nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu riêng của thị trường dự kiến.
Từ góc độ doanh nghiệp, việc chuẩn hóa vì thế cần được thực hiện xuyên suốt từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, hồ sơ, truy xuất đến sản phẩm cuối cùng. Khi lựa chọn tiêu chuẩn, doanh nghiệp cũng cần xác định trước thị trường mục tiêu để tránh tình trạng sản phẩm đã được chứng nhận nhưng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thị trường dự kiến.
![]()
Chính sách tạo khung, doanh nghiệp biến tiêu chuẩn thành thị trường
Nghị định 109/2018/NĐ-CP đồng thời quy định một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ. Trong đó có nội dung hỗ trợ một lần 100% chi phí cấp giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đối với trường hợp đáp ứng điều kiện; cùng các nội dung hỗ trợ liên quan đến xác định vùng đủ điều kiện sản xuất hữu cơ, đào tạo và xây dựng, nhân rộng mô hình. Việc hỗ trợ được thực hiện theo điều kiện và nguồn kinh phí được quy định.
Với doanh nghiệp và HTX, điểm quan trọng không chỉ nằm ở việc hoàn thành thủ tục để được cấp chứng nhận. Giá trị lớn hơn là xây dựng được một hệ thống sản xuất có khả năng duy trì tiêu chuẩn, kiểm soát nguyên liệu và cung cấp thông tin đủ rõ ràng cho người mua.
Khi tiêu chuẩn được tính đến ngay từ quá trình xây dựng vùng nguyên liệu và tổ chức sản xuất, doanh nghiệp có thêm cơ sở để lựa chọn thị trường, thiết kế sản phẩm, chuẩn hóa bao bì và xây dựng hệ thống truy xuất. Đây cũng là cách để chứng nhận hữu cơ gắn với chất lượng thực tế thay vì chỉ được xem như một thông tin trên nhãn hàng hóa.
Trong bối cảnh người tiêu dùng và các thị trường nhập khẩu ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, phương thức sản xuất và khả năng kiểm chứng sản phẩm, việc nắm đúng chính sách chứng nhận sẽ giúp doanh nghiệp, HTX giảm rủi ro trong sử dụng thông tin “hữu cơ”, đồng thời chủ động hơn trong xây dựng vùng nguyên liệu và phát triển thị trường.
