Tiếp nối khảo sát lãi suất ngày 29/10, đợt rà soát ngày 7/11/2026 đối chiếu lại nguồn công bố của 30 ngân hàng. Dữ liệu phù hợp được xác minh tại 28 ngân hàng, với tiền gửi VND, khách hàng cá nhân phổ thông, nhận lãi cuối kỳ, chọn bậc tương ứng khoản 100 triệu đồng.
![]()
Đầu tháng 11, những ngân hàng nào giảm lãi suất?
Public Bank áp dụng biểu Basic mới từ 4/11, niêm yết 5,3%/năm cho 6 tháng và 5,8%/năm cho 12 tháng tại quầy. So với mức 5,8% và 6,3% trong khảo sát ngày 29/10, cả hai kỳ hạn cùng giảm 0,5 điểm phần trăm.
Trong khi đó, kênh online giữ mức 6,3%/năm cho 6 tháng và 6,8%/năm cho 12 tháng. Việc giảm lãi tại quầy khiến chênh lệch giữa hai kênh ở kỳ hạn một năm tăng từ 0,5 lên 1 điểm phần trăm. Các mức này thuộc biểu Basic, không gộp với biểu Plus của cùng ngân hàng.
OCB có biểu hiệu lực 6/11, trong đó kỳ hạn 24 tháng áp dụng 5,9% tại quầy và 6,1%/năm online cho khoản 100 triệu đồng. Hai mức cùng thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với khảo sát trước. Lãi suất 6 và 12 tháng ở bậc tiền gửi được chọn vẫn giữ nguyên.
Những điều chỉnh trên là các trường hợp cụ thể được ghi nhận khi theo dõi diễn biến lãi suất đầu tháng 11, không đồng nghĩa mọi ngân hàng hoặc mọi kỳ hạn cùng giảm.
PGBank có biểu mang mốc hiệu lực 7/11, song mức thông thường tại quầy 6 và 12 tháng vẫn là 6,1% và 6,2%/năm; online tương ứng 6,9% và 7%/năm, không đổi so với bản 29/10. TPBank cũng có PDF áp dụng từ 7/11, niêm yết Tiết kiệm Điện tử 5,5%/năm cho 6 tháng, 5,7% cho 12 tháng và 5,8% cho 24 tháng.
Gửi 100 triệu đồng, online có thể nhận thêm bao nhiêu?
Ở kỳ hạn 12 tháng, Sacombank áp dụng 5,4%/năm tại quầy và 6,8%/năm online cho bậc tiền gửi phù hợp khoản 100 triệu đồng. Nếu giữ đủ 365 ngày, tiền lãi tương ứng 5,4 triệu và 6,8 triệu đồng, chênh 1,4 triệu đồng.
Tại Public Bank, cùng số tiền và thời gian minh họa, biểu Basic mang lại 5,8 triệu đồng tại quầy hoặc 6,8 triệu đồng online. Khoản lãi nhận thêm là 1 triệu đồng, gấp đôi mức chênh ghi nhận trong khảo sát 29/10.
BVBank niêm yết 6,05% tại quầy và 6,9%/năm trực tuyến, tương ứng chênh 850.000 đồng. PGBank có hai mức 6,2% và 7%/năm, tạo chênh lệch 800.000 đồng khi gửi 100 triệu đồng đủ 365 ngày.
OCB áp dụng 6,2% tại quầy và 6,4%/năm online cho 12 tháng, tương ứng chênh 200.000 đồng. Riêng online, khoản đúng 100 triệu đồng thuộc bậc từ 100 triệu đến 500 triệu đồng, cần chọn đúng cột trong biểu thay vì dùng mức dành cho khoản dưới 100 triệu.
Tuy nhiên, mức lãi của hai kênh có thể bằng nhau. MBV cùng áp dụng 7%/năm cho 12 tháng tại quầy và online; ABBank cùng 5,75%, còn Vietcombank cùng 5,4%/năm. Với các trường hợp này, gửi qua ứng dụng không tạo thêm tiền lãi theo mức niêm yết được khảo sát.
Vì vậy, lợi thế của online cần được đối chiếu theo đúng ngân hàng, kỳ hạn và sản phẩm. Người gửi cũng cần xem điều kiện rút vốn, phương thức trả lãi và mức hiển thị khi mở khoản tiền gửi.
![]()
Đơn vị %/năm. Dấu “—” thể hiện chưa đủ dữ liệu phù hợp, không có nghĩa lãi suất bằng 0. Vietbank và SCB chưa xác minh lại được nguồn hiện hành nên không dùng số của kỳ trước.
Kỳ hạn một năm, ngân hàng nào niêm yết 7%?
Khi so sánh lãi suất theo từng kỳ hạn, bảng ngày 7/11 ghi nhận 24 ngân hàng có dữ liệu 12 tháng tại quầy. MBV đứng đầu nhóm này với 7%/năm, tiếp đến BAC A BANK 6,6%, VPBank 6,4% ở bậc dưới 1 tỷ đồng và VRB 6,3%/năm.
PGBank, OCB và Saigonbank cùng áp dụng 6,2%/năm; LPBank là 6,1%; BVBank 6,05%; MSB và Vikki Bank cùng 6%/năm. Techcombank niêm yết 5,75% cho Phát Lộc của khách hàng thường gửi dưới 1 tỷ đồng.
Vietcombank, Agribank và VietABank cùng ở mức 5,4%/năm. ACB là 4,8% với tiết kiệm truyền thống trước thưởng bậc thang; SeABank là 4,3%/năm cho Tiết kiệm Lĩnh lãi cuối kỳ.
Ở 24 ngân hàng có dữ liệu 12 tháng online, MBV và PGBank cùng đạt 7%/năm; BVBank 6,9%; Public Bank và Sacombank cùng 6,8%; VPBank, LPBank và Saigonbank cùng 6,7%/năm.
Các mức trên phản ánh nhóm sản phẩm đủ dữ liệu đối chiếu, chưa phải xếp hạng toàn thị trường.
![]()
Lãi suất cao cần đọc cùng kỳ hạn và điều kiện sản phẩm
Những mức lãi suất cao đi kèm điều kiện cần được tách khỏi bảng so sánh phổ thông.
Theo biểu VPBank hiệu lực 24/10, khách hàng gửi dưới 1 tỷ đồng online, nhận lãi cuối kỳ, được niêm yết 7,4%/năm ở 15 và 18 tháng. Mức này thuộc kỳ hạn dài hơn; 12 tháng của cùng bậc là 6,7%/năm.
MSB có mức 9%/năm cho 12 và 13 tháng ở sản phẩm “Lãi suất cao nhất”, với khoản gửi từ 500 tỷ đồng theo điều kiện trong biểu. Mức này không dùng để tính lãi cho khoản 100 triệu đồng.
Sản phẩm online “Lãi suất đặc biệt” của MSB niêm yết 7%/năm cho 12, 15 và 24 tháng, nhưng khách hàng phải đồng thời đáp ứng các điều kiện: tại thời điểm mở sổ không có sổ tiết kiệm, hợp đồng tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi… tại MSB; chỉ có một sổ của sản phẩm này tại một thời điểm; số tiền gửi tối đa mỗi khách hàng là 5 tỷ đồng. Bảng chính dùng mức online thông thường 6,3%/năm cho 12 tháng.
PGBank có sản phẩm online không rút gốc trước hạn, niêm yết 7,1%/năm cho 12 tháng, cao hơn mức online thông thường 7%. Phần lãi cao hơn đi cùng hạn chế về rút vốn.
Các ví dụ tiền lãi trong bài tính theo tiền gốc × lãi suất năm × số ngày thực gửi/365, giả định giữ đủ 365 ngày. Với 100 triệu đồng, mỗi 0,1 điểm phần trăm chênh lệch tương ứng 100.000 đồng tiền lãi trong thời gian này. Số thực nhận phụ thuộc ngày gửi, ngày đáo hạn và điều kiện của đúng sản phẩm khi mở khoản tiền gửi.
Đăng Thy
