Phụ nữ dẫn dắt hợp tác xã, thúc đẩy nông nghiệp xanh và phát triển bền vững

Phát huy vai trò của phụ nữ trong quản lý, điều hành hợp tác xã không chỉ góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập mà còn mở ra hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh. Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, khi được hỗ trợ về quản trị, công nghệ và kết nối thị trường, phụ nữ có thể trở thành lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới kinh tế tập thể, nâng cao giá trị nông sản và xây dựng nông thôn bền vững.
Phụ nữ tham gia quản lý, điều hành hợp tác xã, góp phần phát triển sản phẩm địa phương và nâng cao giá trị nông sản. Ảnh internet

Trao quyền kinh tế, nâng cao vị thế phụ nữ trong hợp tác xã

Trong tiến trình phát triển kinh tế nông thôn, phụ nữ Việt Nam không chỉ giữ vai trò quan trọng trong gia đình và cộng đồng mà còn ngày càng khẳng định vị thế trong sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế tập thể. Với khả năng kết nối cộng đồng, kinh nghiệm sản xuất và sự am hiểu về sản phẩm địa phương, nhiều phụ nữ đang trở thành nhân tố tích cực trong xây dựng hợp tác xã, phát triển sản phẩm đặc trưng và tổ chức liên kết thị trường.

Kinh tế tập thể, hợp tác xã tạo điều kiện để phụ nữ chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất hàng hóa, tiếp cận khoa học, công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây cũng là môi trường để các thành viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau phát triển sinh kế và nâng cao tiếng nói của phụ nữ trong các quyết định kinh tế tại địa phương.

Nhằm thúc đẩy quá trình này, ngày 3/1/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý, tạo việc làm cho lao động nữ đến năm 2030”.

Đề án hướng đến việc tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào quản lý, điều hành hợp tác xã, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm cho lao động nữ. Điểm đáng chú ý là phụ nữ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà còn được xác định là chủ thể tham gia tổ chức, quản lý và phát triển kinh tế tập thể.

Theo số liệu được cung cấp trong tài liệu, Đề án đã hỗ trợ củng cố 1.137 hợp tác xã, 6.598 tổ hợp tác và hỗ trợ thành lập mới 554 hợp tác xã. Các hoạt động này góp phần tạo việc làm cho trên 15.000 thành viên, lao động nữ trong hợp tác xã và trên 40.000 lao động nữ trong tổ hợp tác. Thu nhập bình quân của thành viên hợp tác xã đạt khoảng 5 triệu đồng/người/tháng.

Những kết quả trên cho thấy vai trò của các chính sách hỗ trợ trong việc cải thiện sinh kế, mở rộng cơ hội việc làm và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào hoạt động kinh tế, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn còn nhiều khó khăn.

Cùng với việc củng cố tổ chức, các hoạt động hỗ trợ quản trị, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm OCOP và kết nối thị trường đã giúp nhiều hợp tác xã từng bước đổi mới phương thức hoạt động. Thay vì chỉ tập trung sản xuất, các đơn vị ngày càng quan tâm đến chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn thị trường, xây dựng thương hiệu và liên kết các khâu trong chuỗi giá trị.

Đáng chú ý, trong số 4.429 thành viên của các hợp tác xã thành lập mới theo số liệu được cung cấp, có 3.890 thành viên nữ, chiếm trên 87%. Tỷ lệ này cho thấy sự tham gia tích cực của phụ nữ trong quá trình hình thành và phát triển các mô hình kinh tế tập thể.

Việc gắn hoạt động hợp tác xã với lợi thế địa phương, sản phẩm OCOP, chuyển đổi số và sản xuất xanh không chỉ giúp khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có mà còn mở rộng cơ hội để phụ nữ phát triển kinh tế, từng bước nâng cao năng lực quản trị và vị thế trong cộng đồng.

Sơn La: Phát huy lợi thế địa phương, xây dựng chuỗi giá trị

Thực tiễn tại Sơn La cho thấy vai trò của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ trong hỗ trợ thành lập, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã có phụ nữ tham gia quản lý.

Bà Cầm Thị Hồng Duyên, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Sơn La, cho biết trong giai đoạn 2021–2026, Hội đã phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh hỗ trợ thành lập mới 30 hợp tác xã có phụ nữ tham gia quản lý; duy trì hoạt động của 149 hợp tác xã và hỗ trợ thành lập 147 mô hình kinh tế tập thể, gồm tổ hợp tác và tổ liên kết.

Nhiều hợp tác xã do phụ nữ làm chủ đã phát triển trong các lĩnh vực chè, cà phê, cây ăn quả, dược liệu, chế biến nông sản và du lịch cộng đồng. Tiêu biểu có Hợp tác xã Eco Tây Bắc, Hợp tác xã Măng Xuân Nha, Hợp tác xã 26-3, Hợp tác xã Rau hoa quả và Dịch vụ nông nghiệp Mộc Châu.

Thông qua việc gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và phát triển sản phẩm OCOP, các mô hình này từng bước hình thành hướng liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị nông sản và tạo việc làm cho hội viên phụ nữ.

Một số hợp tác xã còn kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch cộng đồng, qua đó khai thác lợi thế cảnh quan, văn hóa và sản phẩm đặc trưng của địa phương. Hướng đi này tạo thêm cơ hội đa dạng hóa nguồn thu, đồng thời góp phần gìn giữ nghề truyền thống và quảng bá hình ảnh Sơn La.

Đặc biệt, việc hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia quản lý, điều hành hợp tác xã và tổ hợp tác có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng cơ hội phát triển kinh tế. Thông qua hoạt động tập huấn, kết nối thị trường và hỗ trợ khởi nghiệp, phụ nữ có điều kiện nâng cao kiến thức, kỹ năng tổ chức sản xuất, từng bước chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết theo chuỗi giá trị.

Các cuộc thi phụ nữ khởi nghiệp cũng góp phần phát hiện những ý tưởng, sản phẩm có tiềm năng. Những dự án tiếp tục được hỗ trợ hoàn thiện, kết nối thị trường và mở rộng sản xuất sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa ý tưởng thành hoạt động kinh doanh thực tế.

Từ Sơn La có thể thấy, hiệu quả của mô hình hợp tác xã không chỉ phụ thuộc vào năng lực của người đứng đầu mà còn gắn với khả năng khai thác lợi thế địa phương, tổ chức liên kết và xây dựng thị trường cho sản phẩm. Khi những yếu tố này được kết nối, hợp tác xã có thể trở thành nền tảng giúp phụ nữ phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng.

Quảng cáo
Phụ nữ tham gia chế biến nông sản trong mô hình hợp tác xã tại vùng miền núi. Ảnh internet

Phụ nữ trở thành chủ thể của đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh

Bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhận định thực tiễn cho thấy nhiều hợp tác xã có phụ nữ tham gia điều hành phát huy tốt lợi thế trong kết nối cộng đồng, kiểm soát chất lượng và phát triển sản phẩm đặc trưng địa phương.

Theo bà, việc gắn kết phát triển kinh tế với gìn giữ các giá trị văn hóa, xã hội và môi trường là một trong những yếu tố quan trọng đối với hoạt động của nhiều hợp tác xã do phụ nữ tham gia quản lý. Các vấn đề về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường ngày càng có ý nghĩa đối với khả năng cạnh tranh của nông sản trên thị trường.

Tại một số địa phương như Sơn La, Bắc Giang, Đồng Tháp và Lâm Đồng, các hợp tác xã do phụ nữ quản lý đã từng bước tiếp cận tiêu chuẩn VietGAP, sản xuất hữu cơ, truy xuất nguồn gốc điện tử, bán hàng trên nền tảng số và tham gia các sàn thương mại điện tử.

Việc ứng dụng những phương thức sản xuất và kinh doanh mới giúp hợp tác xã có thêm công cụ kiểm soát chất lượng, quảng bá sản phẩm và tiếp cận khách hàng. Đây cũng là cơ sở để các đơn vị từng bước nâng cao tính chuyên nghiệp, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường và mở rộng khả năng liên kết với doanh nghiệp.

Nhiều nữ giám đốc hợp tác xã đang đảm nhiệm đồng thời vai trò tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và kết nối cộng đồng. Khi được tiếp cận nguồn lực, công nghệ và kiến thức quản trị, họ có thể trở thành nhân tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển thương hiệu nông sản và bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương.

Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình phát triển hợp tác xã và tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp. Hạn chế về khả năng tiếp cận nguồn lực, khoảng cách số, kỹ năng quản trị và áp lực cân bằng giữa công việc với trách nhiệm chăm sóc gia đình là những thách thức đáng chú ý.

Bên cạnh đó, phụ nữ nông thôn cũng chịu tác động từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và những biến động của thị trường. Khi thiếu nguồn lực tài chính, công nghệ và mạng lưới hỗ trợ, khả năng thích ứng và mở rộng sản xuất của các hợp tác xã có phụ nữ tham gia quản lý có thể bị hạn chế.

Thực tế này cho thấy, phát huy vai trò của phụ nữ không thể chỉ dừng ở việc khuyến khích tham gia thành lập hợp tác xã. Điều quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ tiếp cận bình đẳng với nguồn lực phát triển, nâng cao năng lực quản trị, tham gia các quyết định kinh tế và chủ động nắm bắt cơ hội từ chuyển đổi số, nông nghiệp công nghệ cao và tăng trưởng xanh.

Thành viên nữ hợp tác xã đóng gói sản phẩm nông sản phục vụ tiêu thụ thị trường. Ảnh internet

Đồng bộ giải pháp, tạo động lực phát triển đến năm 2030

Để nâng cao hiệu quả của Đề án đến năm 2030, cần tiếp tục triển khai các giải pháp theo hướng thiết thực, phù hợp với nhu cầu của phụ nữ và điều kiện sản xuất tại từng địa phương.

Trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, vận động để phụ nữ hiểu rõ lợi ích của kinh tế tập thể, hợp tác xã; đồng thời hỗ trợ các hợp tác xã hiện có củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động. Việc hỗ trợ thành lập mới cần gắn với nhu cầu thực tế, lợi thế địa phương, khả năng tổ chức sản xuất và phương án tiêu thụ sản phẩm, tránh chạy theo số lượng mà thiếu tính bền vững.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng nên tập trung vào kỹ năng quản trị, xây dựng phương án kinh doanh, quản lý tài chính, phát triển thương hiệu, ứng dụng công nghệ và tiếp thị số. Nội dung hỗ trợ cần sát với nhu cầu thực tế, giúp nữ cán bộ quản lý và thành viên hợp tác xã có thể áp dụng trực tiếp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ ba, cần mở rộng cơ hội tiếp cận nguồn lực tài chính, khoa học, công nghệ và hạ tầng phục vụ sản xuất. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Liên minh Hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các đơn vị khoa học, công nghệ sẽ góp phần tăng khả năng tiếp nhận, chuyển giao tri thức và nhân rộng mô hình hiệu quả.

Thứ tư, phát triển hợp tác xã cần gắn với thị trường và chuỗi giá trị. Các hoạt động hỗ trợ xây dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP và kết nối với doanh nghiệp cần được triển khai đồng bộ. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, mở rộng đầu ra và tạo nguồn thu ổn định hơn cho thành viên.

Thứ năm, cần quan tâm đến đặc thù của phụ nữ nông thôn, nhất là phụ nữ dân tộc thiểu số và những người sống tại địa bàn khó khăn. Việc thiết kế hoạt động đào tạo, tư vấn và hỗ trợ cần tạo điều kiện để phụ nữ cân bằng trách nhiệm gia đình với công việc, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng trước rủi ro khí hậu và biến động thị trường.

Cùng với đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cấp Hội cần tiếp tục nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành; mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và đối tác phát triển nhằm huy động nguồn lực, tiếp nhận công nghệ và học hỏi kinh nghiệm phát triển hợp tác xã tiên tiến.

Phát huy vai trò của phụ nữ trong kinh tế tập thể không chỉ là nhiệm vụ thúc đẩy bình đẳng giới mà còn góp phần khai thác hiệu quả nguồn lực con người, nâng cao chất lượng tăng trưởng và tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững.

Khi được trao cơ hội tiếp cận nguồn lực, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phụ nữ có thể trở thành lực lượng dẫn dắt đổi mới tại khu vực nông thôn. Đầu tư cho năng lực và cơ hội phát triển của phụ nữ vì thế cũng là đầu tư cho sức sống của hợp tác xã, giá trị nông sản và tương lai của nền nông nghiệp xanh, hiện đại, bao trùm và bền vững.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm