Điện Biên: Từ mở rộng vùng trồng đến phát triển nông nghiệp xanh

Từ mở rộng vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca đến thay đổi phương thức canh tác lúa, cây ăn quả và thử nghiệm công nghệ UAV, Điện Biên đang từng bước chuyển sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, an toàn, hiện đại và bền vững.
Nông nghiệp Điện Biên chuyển hướng xanh, hiện đại với vùng cà phê, mắc ca mở rộng và ứng dụng công nghệ trong sản xuất. Ảnh internet

Khi tiêu dùng xanh ngày càng được quan tâm, giá trị nông sản không chỉ nằm ở sản lượng mà còn gắn với quy trình sản xuất, mức độ an toàn, khả năng truy xuất nguồn gốc và tác động môi trường. Tại Điện Biên, tư duy sản xuất theo hướng xanh, hữu cơ, sinh thái, tuần hoàn đang được doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân quan tâm, từ đó mở ra hướng phát triển các vùng sản xuất gắn với cơ sở dữ liệu vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và nhãn hiệu “phát thải thấp”.

Từ thay đổi cây trồng đến hình thành vùng sản xuất hàng hóa

Tại xã Chiềng Sinh, những vùng cà phê, mắc ca đang dần mở rộng, tạo chuyển biến trong sản xuất nông nghiệp. Từ phương thức canh tác nhỏ lẻ, người dân từng bước tham gia các vùng trồng tập trung, đầu tư chăm sóc và liên kết sản xuất, hướng tới sản xuất hàng hóa gắn với nhu cầu thị trường.

Gia đình bà Quàng Thị Cân, bản Đông Thấp, xã Chiềng Sinh hiện có 2ha cà phê và 5ha mắc ca. Trước đây, diện tích nương của gia đình chủ yếu trồng ngô, sắn nhưng hiệu quả không cao. Sau khi địa phương vận động chuyển đổi cây trồng, gia đình bà chuyển sang trồng cà phê, mắc ca và hiện cây đang phát triển ổn định.

Không riêng gia đình bà Cân, nhiều hộ dân ở Chiềng Sinh cũng đang thay đổi cách làm nông nghiệp. Gia đình chị Lò Thị Sức, bản Huổi Hốc, năm 2025 trồng hơn 5.000m² cà phê. Nhận thấy cây sinh trưởng ổn định, năm 2026 gia đình tiếp tục mở rộng thêm 10.000m². Theo chị Sức, việc chuyển sang cây trồng lâu năm phù hợp với điều kiện đất đai giúp gia đình có thêm hướng sản xuất và từng bước nâng cao hiệu quả trên cùng diện tích đất.

Những thay đổi từ cơ sở đang góp phần thúc đẩy quá trình cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp của địa phương. Năm 2025, Chiềng Sinh có hơn 310ha cà phê và 182ha mắc ca trồng mới, đạt 151% kế hoạch giao.

Năm 2026, xã đặt mục tiêu trồng mới 800ha cà phê, 150ha mắc ca và phối hợp với doanh nghiệp phát triển trên 500ha mắc ca. Thực tế triển khai cho thấy kết quả vượt mục tiêu. Xã đã trồng mới 860ha cà phê, trong đó 718,8ha thuộc dự án và 141,2ha do người dân tự đầu tư, đạt 215% kế hoạch tỉnh giao, nâng tổng diện tích cà phê toàn xã lên 1.184,1ha.

Cùng với cà phê, năm 2026 xã trồng mới 400ha mắc ca xen cà phê, đạt 100% kế hoạch, nâng tổng diện tích mắc ca lên 979ha, với tỷ lệ cây sống ước đạt trên 96%.

Để những diện tích mới trồng sớm hình thành vùng sản xuất ổn định, Chiềng Sinh huy động nguồn lực tại chỗ và phát huy vai trò của người dân. Hơn 1.960 lao động được huy động đào hố, với khối lượng gần 173.000m³ đất. Người dân trực tiếp tham gia các khâu gieo ươm, làm đất, trồng, chăm sóc, trồng dặm và xử lý sâu bệnh.

Ông Đỗ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Chiềng Sinh, cho biết ngay từ đầu năm 2026, xã tập trung chỉ đạo công tác gieo ươm, tuyên truyền, vận động Nhân dân đăng ký trồng, phát triển cây mắc ca, cà phê; đồng thời tạo phong trào thi đua nhằm thực hiện các mục tiêu tái cơ cấu nông nghiệp trong năm 2026 và những năm tiếp theo.

Cùng với mở rộng diện tích, xã chú trọng tổ chức lại sản xuất và nâng vai trò của các chủ thể kinh tế. Hiện Chiềng Sinh duy trì 6 hợp tác xã nông nghiệp, hơn 200 hộ kinh doanh và đã hỗ trợ thành lập doanh nghiệp đầu tiên trên địa bàn. Đây được xác định là lực lượng quan trọng để từng bước đưa sản xuất ra khỏi quy mô hộ nhỏ lẻ, tăng liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Đối với mắc ca, xã đang phối hợp với doanh nghiệp triển khai vùng lõi, hướng tới quy mô hơn 2.400ha trong những năm tới. Việc hình thành vùng nguyên liệu lớn được đặt trong mối liên kết với chế biến và tiêu thụ.

Tuy nhiên, mở rộng diện tích mới chỉ là bước đầu. Khi diện tích cà phê, mắc ca tăng nhanh, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm chất lượng vùng nguyên liệu, kiểm soát sâu bệnh, nâng tỷ lệ cây sinh trưởng tốt và từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất. Vì vậy, trước mắt, địa phương tập trung chăm sóc, trồng dặm và phòng trừ sâu bệnh cho diện tích mới trồng.

Ông Nguyễn Văn Duy, Phó Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Chiềng Sinh, cho biết khâu chăm sóc trong những năm đầu có ý nghĩa quan trọng. Địa phương đang phối hợp với các bản hướng dẫn người dân chăm sóc, làm cỏ, bón phân, phòng trừ sâu bệnh và trồng dặm cây bị chết, nhằm bảo đảm diện tích đã trồng sinh trưởng tốt và tạo tiền đề hình thành vùng nguyên liệu ổn định.

Theo định hướng năm 2027, Chiềng Sinh dự kiến trồng mới khoảng 600ha cà phê và 600ha mắc ca. Xã đã chủ động chuẩn bị quỹ đất, giống, nhân lực và kỹ thuật; đồng thời định hướng phát triển vùng trồng theo tiêu chuẩn an toàn, hữu cơ, có mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và từng bước tiêu chuẩn hóa sản phẩm.

Sản xuất xanh trở thành yêu cầu mới

Câu chuyện tại Chiềng Sinh cũng nằm trong xu hướng chuyển đổi chung của nông nghiệp Điện Biên. Năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu nâng diện tích rau các loại lên 6.500ha, sản lượng 113,1 nghìn tấn; diện tích cà phê trên 13.130ha, mắc ca gần 14.900ha và cây ăn quả 5.000ha.

Quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng nhưng yêu cầu về chất lượng và phương thức canh tác ngày càng rõ hơn.

Điều này thể hiện ở cây lúa, ngành hàng chủ lực của nông nghiệp Điện Biên. Tại cánh đồng Mường Thanh, kỹ thuật tưới ngập, khô xen kẽ được áp dụng nhằm tiết kiệm nước và hướng tới giảm phát thải khí nhà kính. Người dân được hướng dẫn hạn chế phân bón hóa học, tăng sử dụng phân hữu cơ và thực hiện quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

Việc sử dụng phân bón hợp lý góp phần giảm chi phí; quản lý dịch hại tốt giúp hạn chế lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật; tưới nước theo nhu cầu của cây giúp giảm lượng nước sử dụng. Dự án áp dụng tiến bộ kỹ thuật theo hướng hữu cơ vào sản xuất lúa vụ mùa năm 2026 tại xã Thanh Nưa và chương trình BNS OPEN tại một số xã thuộc cánh đồng Mường Thanh do Công ty Cổ phần Công nghệ Nano BSB thực hiện đang tạo thêm những cách tiếp cận mới trong sản xuất lúa.

Ở nhóm cây ăn quả, yêu cầu sản xuất an toàn cũng thúc đẩy người dân và hợp tác xã thay đổi phương thức chăm sóc.

Tại vườn nho mẫu đơn Pú Tửu của Hợp tác xã Nông sản chất lượng cao Thảo Nguyên, phường Mường Thanh, sản xuất được tổ chức trên diện tích gần 2ha với khoảng 1.000 gốc nho mẫu đơn trồng theo tiêu chuẩn VietGAP. Nho được chăm sóc theo hướng hữu cơ, nhiều chùm quả được bọc để hạn chế côn trùng; hệ thống tưới phun tự động được bố trí đến từng gốc.

Vườn nho đồng thời mở cửa để khách tham quan, trải nghiệm và thu hoạch trực tiếp. Việc cắt nho ngay tại vườn giúp sản phẩm giữ được độ tươi, giòn và tạo thêm nguồn thu từ dịch vụ trải nghiệm.

Quảng cáo

Những mô hình này cho thấy sản xuất xanh không đơn thuần là thay đổi kỹ thuật canh tác mà còn gắn với tổ chức lại sản xuất. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến chất lượng, nguồn gốc và quy trình tạo ra sản phẩm. Vì vậy, phát triển kinh tế tập thể, hình thành vùng nguyên liệu tập trung và tăng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã với doanh nghiệp trở thành yêu cầu quan trọng.

Khi chuỗi sản xuất được tổ chức từ vật tư đầu vào, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản đến tiêu thụ, việc kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc sẽ thuận lợi hơn. Đây cũng là cơ sở để các yêu cầu về an toàn và giảm phát thải trở thành một phần của giá trị nông sản.

Theo kế hoạch sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2030, tỉnh hướng tới hình thành nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, có khả năng chống chịu với tác động của biến đổi khí hậu; góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2035 giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt. Tỉnh phấn đấu khoảng 20 - 30% diện tích áp dụng các gói kỹ thuật sản xuất giảm phát thải do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành.

Điểm đáng chú ý không chỉ là áp dụng kỹ thuật giảm phát thải mà còn yêu cầu đo lường, báo cáo và thẩm tra (MRV) để xác định kết quả. Khi lượng phát thải được lượng hóa, những mô hình hiệu quả sẽ có thêm cơ sở để đánh giá, nhân rộng và gắn với giá trị thị trường.

Tại diễn đàn kết nối chuỗi giá trị nông sản Điện Biên theo hướng xanh, bền vững, các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nghiệp và hợp tác xã tập trung trao đổi về kinh tế tuần hoàn, đổi mới giống, ứng dụng khoa học công nghệ, chế biến sâu và bảo quản sau thu hoạch.

TS. Lê Văn Đức, Hội Làm vườn Việt Nam, cho rằng việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi và công nghệ cần phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của từng địa phương; đồng thời quy trình sản xuất phải hướng tới tiết kiệm nước, năng lượng và kiểm soát phát thải khí nhà kính.

Với Điện Biên, yêu cầu này càng có ý nghĩa bởi điều kiện tự nhiên và lợi thế sản xuất giữa các vùng không giống nhau. Do đó, việc lựa chọn mô hình và giải pháp kỹ thuật cần tính đến đặc thù của từng khu vực.

Sản phẩm nho mẫu đơn của Hợp tác xã Nông sản chất lượng cao Thảo Nguyên, phường Mường Thanh, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, được thị trường ưa chuộng. Ảnh minh họa internet

Mở hướng hiện đại hóa sản xuất

Thực hiện chủ trương cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo hướng hàng hóa tập trung, xanh, thông minh và bền vững, năm 2026 Điện Biên tập trung mở rộng diện tích cà phê, mắc ca trên địa bàn toàn tỉnh.

Kết quả vượt kế hoạch đang tạo ra những vùng sản xuất quy mô lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về ứng dụng khoa học, công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả canh tác, giảm chi phí và từng bước hiện đại hóa sản xuất.

Sau khi UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1850 về tổ chức trồng mới cây cà phê, mắc ca và thử nghiệm mô hình phát triển kinh tế không gian tầm thấp, 43/43 xã, phường được giao chỉ tiêu đã xây dựng kế hoạch chi tiết và tổ chức triển khai.

Cùng với rà soát quỹ đất, các địa phương huy động cán bộ, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp với người dân đào hố, chuẩn bị mặt bằng, trồng và chăm sóc cây. Công tác hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra, đôn đốc tiến độ cũng được triển khai tại cơ sở.

Mường Mùn là một trong những địa phương có kết quả nổi bật. Cấp ủy, chính quyền xã phân công cán bộ xuống cơ sở, phối hợp với các bản rà soát diện tích đất, vận động người dân tham gia; đồng thời huy động lực lượng hỗ trợ đào hố, chuẩn bị mặt bằng, trồng và chăm sóc cây.

Địa phương xác định phát triển cà phê, mắc ca là hướng sản xuất hàng hóa lâu dài, gắn với mục tiêu cơ cấu lại ngành nông nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã xác định đến năm 2030 phát triển 1.500ha cà phê và 1.200ha mắc ca.

Trong năm 2026, từ nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia và sự tham gia của người dân, xã đã trồng mới 1.142ha cà phê và 424ha mắc ca. Riêng người dân tự trồng 176ha cà phê. Qua đó, tổng diện tích cà phê trên địa bàn xã lên 1.823ha và mắc ca 1.294ha.

Cùng với mở rộng vùng trồng, Điện Biên đang thử nghiệm đưa phương tiện bay không người lái vào hỗ trợ sản xuất.

Đề án thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) phát triển kinh tế không gian tầm thấp ứng dụng phương tiện bay không người lái được UBND tỉnh ban hành tháng 7/2026. Theo đó, Điện Biên dự kiến triển khai từ 3 - 5 mô hình ứng dụng UAV chuyên biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, logistics, y tế, đo đạc bản đồ số, với khoảng 6.000 chuyến bay.

Đến nay, các cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp đã khảo sát thực tế, xác định 8 điểm sẵn sàng triển khai thử nghiệm, trong đó có vùng chè Tả Phìn - Tà Pao, xã Sính Phình; khu vực cánh đồng Mường Thanh và các xã Thanh Nưa, Tuần Giáo, Mường Ảng.

Mường Ảng được lựa chọn thí điểm sandbox UAV trong nông nghiệp. Với hơn 1.800ha cà phê hiện có, địa hình đồi núi và nhiều diện tích sản xuất nằm trên khu vực có độ dốc lớn, địa phương đánh giá UAV có thể hỗ trợ giám sát vùng trồng, đánh giá sinh trưởng, phun thuốc chính xác và vận chuyển vật tư, nông sản.

Thử nghiệm phun phân bón qua lá cho cây cà phê trên diện tích 1ha đã rút ngắn thời gian thực hiện từ khoảng 4 giờ xuống còn khoảng 10 phút/ha; năng suất rải phân bón đạt từ 40 - 64ha/ngày. Đây là cơ sở thực tiễn để tỉnh tiếp tục kiểm chứng hiệu quả của công nghệ trong điều kiện sản xuất cụ thể.

Từ mở rộng diện tích đến nâng giá trị nông sản

Đến nay, toàn tỉnh đã trồng mới hơn 18.780ha cà phê, mắc ca, đạt 156,5% kế hoạch. Trong đó, diện tích cà phê trồng mới đạt 12.126ha, bằng 204,49% kế hoạch, vượt 6.196ha; diện tích mắc ca trồng mới đạt 6.654ha, bằng 109,62% kế hoạch, nâng tổng diện tích mắc ca toàn tỉnh lên 19.015ha.

Quy mô vùng trồng tăng nhanh tạo thêm dư địa phát triển cho nông nghiệp Điện Biên, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải nâng chất lượng sản xuất. Đó là kiểm soát vùng nguyên liệu, chuẩn hóa quy trình, nâng hiệu quả chăm sóc, tăng khả năng truy xuất, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ.

Việc thử nghiệm UAV trong chăm sóc, giám sát và vận chuyển cũng mở ra hướng ứng dụng công nghệ phù hợp với điều kiện địa hình của tỉnh. Quan trọng hơn, những mô hình này cần tiếp tục được đánh giá về hiệu quả thực tế để lựa chọn các ứng dụng phù hợp và từng bước nhân rộng.

Sản xuất xanh ở Điện Biên vì vậy đang được cụ thể hóa từ những thay đổi trong từng khâu canh tác đến tổ chức lại vùng sản xuất và ứng dụng công nghệ. Khi quy trình được chuẩn hóa, vùng trồng được quản lý, sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và gắn với chế biến, tiêu thụ, lợi thế về đất đai, khí hậu của Điện Biên sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa thành những sản phẩm có chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị cao hơn.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm