
Giá cà phê trong nước giảm, Robusta chịu áp lực nguồn cung
Sau phiên đầu tuần đi ngang, giá cà phê hôm nay tại khu vực Tây Nguyên đồng loạt giảm 500 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua xuống còn 93.700 - 94.500 đồng/kg.
Đắk Nông tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất, nhưng cũng giảm 500 đồng/kg xuống 94.500 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê cùng giảm về 94.200 đồng/kg.
Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục đứng ở mức thấp nhất trong các địa phương được khảo sát, giảm 500 đồng/kg xuống 93.700 đồng/kg.
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta tại sàn London tiếp tục chịu sức ép. Hợp đồng giao tháng 11/2026 giảm 0,73%, tương đương 25 USD/tấn, xuống 3.405 USD/tấn. Hợp đồng tháng 1/2027 giảm 0,61%, tương đương 21 USD/tấn, xuống 3.394 USD/tấn.
Ở chiều ngược lại, giá Arabica trên sàn New York nhích tăng. Hợp đồng tháng 12/2026 tăng 0,08%, tương đương 0,25 US cent/pound, lên 295,6 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3/2027 tăng 0,82%, tương đương 2,35 US cent/pound, đạt 287,4 US cent/pound.
Áp lực đối với Robusta chủ yếu đến từ triển vọng nguồn cung gia tăng tại Brazil và Việt Nam.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,33 triệu tấn cà phê, tăng 13,7% so với cùng kỳ. Riêng tháng 8, lượng cà phê xuất khẩu đạt khoảng 132.000 tấn, cũng tăng 13,7%.
Tại Brazil, StoneX dự báo sản lượng cà phê niên vụ 2026 - 2027 có thể đạt mức kỷ lục 77,2 triệu bao loại 60 kg, tăng 23,9% so với niên vụ trước. Trong khi đó, Safras & Mercado đưa ra dự báo thấp hơn, ở mức khoảng 75,65 triệu bao.
Không chỉ nguồn cung được dự báo tăng, lượng tồn kho Robusta trên ICE cũng đang tạo thêm áp lực lên giá. Tồn kho Robusta đã lên 5.004 lô vào tuần trước, mức cao nhất trong khoảng 9,25 tháng.
Ngược lại, tồn kho Arabica được chứng nhận trên ICE tính đến ngày 4/9 chỉ còn 223.712 bao, mức thấp nhất trong khoảng 27 năm. Đây được xem là yếu tố tạo lực đỡ nhất định cho giá Arabica.
Giá tiêu hôm nay tăng mạnh, chạm 141.000 đồng/kg
Trái ngược với diễn biến của cà phê, giá tiêu hôm nay đồng loạt tăng mạnh tại các vùng sản xuất trọng điểm, với mức tăng từ 2.000 - 4.000 đồng/kg. Giá thu mua hiện dao động trong khoảng 137.000 - 141.000 đồng/kg.
Đáng chú ý, Đắk Nông (Lâm Đồng) ghi nhận mức tăng mạnh nhất, 4.000 đồng/kg, đưa giá tiêu lên 141.000 đồng/kg, đồng thời trở thành địa phương có giá cao nhất.
Tại Đắk Lắk, giá tiêu tăng 3.500 đồng/kg lên 140.000 đồng/kg.
Khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) tăng 2.500 đồng/kg lên 137.500 đồng/kg.
Gia Lai và Đồng Nai cùng tăng 2.000 đồng/kg lên 137.000 đồng/kg. Bình Phước cũng tăng 2.000 đồng/kg, lên 137.000 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất lớn hiện chưa ghi nhận biến động đáng kể.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Lampung của Indonesia ở mức 6.929 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 Brazil 5.750 USD/tấn; tiêu đen Malaysia 9.300 USD/tấn.
Tiêu đen Việt Nam loại 500 g/l và 550 g/l được chào bán trong khoảng 5.990 - 6.050 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Muntok Indonesia ở mức 9.487 USD/tấn, tiêu trắng Việt Nam 8.400 USD/tấn và Malaysia 12.200 USD/tấn.
Về thương mại, trong tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 21.724 tấn hồ tiêu, thu về 140,9 triệu USD. Đáng chú ý, lượng hồ tiêu xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 3.385 tấn, tăng 81,4% so với tháng 7.
Lũy kế 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 190.153 tấn hồ tiêu, thu về khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 14,2% về lượng và 8,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước.
Ở chiều ngược lại, trong tháng 8, Việt Nam nhập khẩu 2.883 tấn hồ tiêu, với kim ngạch 18 triệu USD.
Tính chung 8 tháng, lượng hồ tiêu nhập khẩu đạt 47.002 tấn, trị giá 270,3 triệu USD, tăng 36,1% về lượng và 19,8% về giá trị.
Campuchia tiếp tục là nguồn cung hồ tiêu lớn nhất cho Việt Nam, với 26.980 tấn trong 8 tháng, tăng 216% so với cùng kỳ và chiếm 57,4% tổng lượng nhập khẩu.
Giá lúa tươi đồng loạt giảm, giao dịch chậm
Trong khi cà phê giảm và hồ tiêu tăng mạnh, thị trường lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long lại ghi nhận xu hướng giảm ở phân khúc lúa tươi.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 giảm 100 đồng/kg, còn 6.400 - 6.600 đồng/kg.
Đài Thơm 8 giảm 300 đồng/kg xuống 6.300 - 6.400 đồng/kg; OM 5451 giảm 300 đồng/kg còn 6.100 - 6.300 đồng/kg; IR 50404 giảm 200 đồng/kg xuống 6.000 - 6.200 đồng/kg.
Riêng OM 34 giữ ổn định ở mức 5.800 - 5.900 đồng/kg.
Tại các địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, giao dịch mua bán mới diễn ra chậm. Nguồn cung đã giảm nhiều nhưng sức mua vẫn yếu, khiến giá lúa tươi chịu áp lực.
Tại An Giang, giá lúa giảm mạnh so với tuần trước. Đồng Tháp ghi nhận giao dịch chậm, giá có xu hướng giảm nhẹ. Trong khi đó, tại Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau và Vĩnh Long, lượng giao dịch mới ít, giá biến động không lớn.
Giá gạo nguyên liệu và gạo bán lẻ ổn định
Trái với diễn biến giảm của lúa tươi, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu nhìn chung ổn định.
Cụ thể, IR 504 và CL 555 cùng ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg; OM 5451 đạt 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg.
OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Giá phụ phẩm dao động từ 7.450 - 8.750 đồng/kg, trong đó tấm thơm ở mức 8.650 - 8.750 đồng/kg và cám khoảng 7.450 - 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có giá cao nhất, khoảng 28.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000 - 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg.
Jasmine có giá 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài thơm 15.500 - 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg và gạo thường 13.500 - 15.000 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Gạo thơm 5% tấm được chào bán ở mức 470 - 480 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm 373 - 377 USD/tấn và Jasmine 534 - 538 USD/tấn.
Tại Thái Lan, gạo 5% tấm ở mức 453 - 457 USD/tấn, gạo 100% tấm 366 - 370 USD/tấn.
Trong khi đó, tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 364 - 368 USD/tấn và gạo 100% tấm 304 - 308 USD/tấn.
Thị trường nông sản diễn biến trái chiều
Nhìn chung, giá nông sản hôm nay 9/9 cho thấy sự phân hóa khá rõ giữa các nhóm hàng.
Cà phê chịu áp lực khi nguồn cung từ Việt Nam và Brazil được dự báo tăng, trong khi tồn kho Robusta phục hồi. Ngược lại, hồ tiêu ghi nhận mức tăng mạnh tại các vùng sản xuất trong nước, với giá cao nhất lên tới 141.000 đồng/kg.
Ở nhóm lúa gạo, giá lúa tươi đồng loạt giảm trong bối cảnh giao dịch mới chậm và sức mua yếu, trong khi giá gạo nguyên liệu, gạo bán lẻ và giá xuất khẩu nhìn chung vẫn ổn định.
Những diễn biến trái chiều này cho thấy thị trường nông sản đang chịu tác động đồng thời từ cung - cầu, tồn kho, hoạt động xuất nhập khẩu và nhu cầu của các thị trường tiêu thụ lớn. Đây sẽ tiếp tục là những yếu tố đáng chú ý trong các phiên giao dịch tiếp theo.
