Xuất nhập khẩu 9 tháng vượt 888 tỷ USD, năm 2026 có thể tiến sát mốc 1.200 tỷ USD

Trong 4 tháng liên tiếp gần đây, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đều vượt 100 tỷ USD/tháng. Riêng tháng 9/2026, tổng kim ngạch đạt 117,72 tỷ USD – mức cao nhất từ đầu năm đến nay. Với đà tăng hiện tại, xuất nhập khẩu cả năm có khả năng vượt mốc 1.000 tỷ USD và trong kịch bản duy trì quy mô giao dịch như những tháng gần đây, có thể tiến sát mốc 1.200 tỷ USD.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam duy trì đà tăng trưởng trong năm 2026, với tổng kim ngạch 9 tháng vượt 888 tỷ USD.

Xuất nhập khẩu tháng 9 lập mức cao mới

Theo số liệu sơ bộ của Cục Hải quan công bố ngày 6/10, xuất khẩu tháng 9/2026 đạt 59,51 tỷ USD, tăng 8,6% so với tháng trước; nhập khẩu đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6%.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 đạt 117,72 tỷ USD. Đây là mức cao nhất trong một tháng kể từ đầu năm 2026 và cũng là mức cao nhất được ghi nhận trong một tháng theo số liệu được cung cấp.

Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 888 tỷ USD, tăng khoảng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 434,32 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,71 tỷ USD, tăng 36,7%.

Trong tháng 9, Việt Nam xuất siêu 1,3 tỷ USD. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, cán cân thương mại vẫn nhập siêu 19,39 tỷ USD.

Kết quả trên cho thấy hoạt động thương mại hàng hóa tiếp tục duy trì quy mô lớn, trong đó cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng mạnh. Đáng chú ý, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, phản ánh nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị và linh kiện phục vụ sản xuất.

Điện tử tiếp tục là động lực chính

Nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tiếp tục giữ vai trò nổi bật trong tăng trưởng xuất khẩu.

Trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt 22,56 tỷ USD, tăng 42,3% so với tháng trước. Lũy kế 9 tháng đạt 123,66 tỷ USD, tăng 59,6% so với cùng kỳ năm 2025.

Bên cạnh đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 55,01 tỷ USD, tăng 27,9%; điện thoại và linh kiện đạt 51,77 tỷ USD, tăng 18,8%.

Ba nhóm hàng trên chiếm khoảng 53,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Riêng nhóm hàng điện tử đóng góp khoảng 54% vào phần kim ngạch xuất khẩu tăng thêm.

Cơ cấu này cho thấy vai trò ngày càng lớn của công nghiệp chế biến, chế tạo trong hoạt động thương mại của Việt Nam. Tuy nhiên, mức độ tập trung cao cũng khiến kết quả xuất khẩu nhạy cảm hơn với chu kỳ sản phẩm, đơn hàng và quyết định sản xuất của các doanh nghiệp lớn.

Do đó, cùng với việc duy trì tăng trưởng ở nhóm hàng điện tử, việc mở rộng năng lực cung ứng trong nước và nâng cao mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa trong chuỗi sản xuất sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc gia tăng giá trị lan tỏa.

Ở một số ngành sử dụng nhiều lao động, tốc độ tăng trưởng thấp hơn đáng kể so với mức chung. Dệt may đạt 30,32 tỷ USD, tăng 1,9%; giày dép đạt 18,04 tỷ USD, tăng 1,4%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 13,3 tỷ USD, tăng 6,3%.

Sự phân hóa này cho thấy yêu cầu nâng năng suất, cải tiến sản phẩm và mở rộng thị trường vẫn đặt ra rõ nét đối với các ngành hàng truyền thống.

Nông, thủy sản diễn biến không đồng đều

Trong nhóm hàng nông, thủy sản, kết quả xuất khẩu cũng có sự khác biệt giữa các mặt hàng.

Thủy sản đạt 9,1 tỷ USD, tăng 11,5%; rau quả đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8%. Trong khi đó, cà phê đạt 6,57 tỷ USD, giảm 6,9% về giá trị dù lượng xuất khẩu tăng 16,3%; gạo đạt 3,06 tỷ USD, giảm 12,3% về giá trị và giảm 6,7% về lượng.

Diễn biến trên cho thấy tăng trưởng xuất khẩu không đồng đều giữa các ngành hàng. Trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động, khả năng nâng cao giá trị sản phẩm, đa dạng hóa thị trường và chủ động thích ứng với yêu cầu của từng thị trường tiếp tục là yếu tố quan trọng đối với xuất khẩu nông sản.

Quảng cáo

Bên cạnh đó, khu vực FDI vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực này đạt 349,55 tỷ USD, tăng 29,5%, chiếm khoảng 80,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Nhập khẩu tăng, phản ánh nhu cầu đầu vào cho sản xuất

Ở chiều nhập khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 188,94 tỷ USD, tăng 71,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 53,95 tỷ USD, tăng 21,9%.

Hai nhóm hàng này chiếm khoảng 53,5% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước, cho thấy nhu cầu lớn đối với linh kiện, thiết bị và máy móc.

Theo Cục Thống kê, tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng. Trong khi đó, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.

Những chỉ số này là cơ sở để cho thấy nhập khẩu tăng gắn với nhu cầu sản xuất và đầu tư. Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng vẫn phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa các nguồn đầu vào này thành sản phẩm, đơn hàng xuất khẩu và giá trị gia tăng trong nước.

Đây cũng là điểm cần lưu ý khi quy mô nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Tăng nhập khẩu phục vụ sản xuất có thể hỗ trợ mở rộng hoạt động kinh tế, nhưng việc nâng cao tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước vẫn là yếu tố quan trọng để cải thiện hiệu quả thương mại.

Cơ hội vượt mốc 1.000 tỷ USD

Sau 9 tháng, triển vọng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2026 vượt mốc 1.000 tỷ USD đang khá rõ.

Để đạt ngưỡng này, trong quý IV cần thêm gần 111,96 tỷ USD, tương đương khoảng 37,32 tỷ USD mỗi tháng. Mức này thấp hơn đáng kể so với bình quân 98,67 tỷ USD/tháng của 9 tháng đầu năm.

Nếu trong quý IV, kim ngạch duy trì mức bình quân của 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm có thể đạt khoảng 1.184 tỷ USD.

Đây là kịch bản có cơ sở khi trong 4 tháng gần đây, từ tháng 6 đến tháng 9, kim ngạch xuất nhập khẩu đều đạt trên 100 tỷ USD/tháng.

Trong kịch bản cao hơn, nếu 3 tháng cuối năm duy trì mức kim ngạch tương đương tháng 9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm có thể đạt khoảng 1.241 tỷ USD.

Như vậy, mốc 1.000 tỷ USD đang nằm trong khả năng đạt được nếu hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục duy trì quy mô như hiện nay. Trong khi đó, mốc 1.200 tỷ USD phụ thuộc vào khả năng giữ được tốc độ giao thương cao trong quý IV.

Theo nội dung được cung cấp, Việt Nam đang nỗ lực tăng tốc trong quý cuối năm để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 ở mức 2 con số. Diễn biến xuất nhập khẩu, vì vậy, không chỉ phản ánh sức khỏe của hoạt động thương mại mà còn có ý nghĩa đối với mục tiêu tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Duy trì đà tăng cần đi cùng nâng chất lượng tăng trưởng

Kết quả 9 tháng cho thấy quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam đang mở rộng nhanh, với động lực lớn đến từ nhóm điện tử, máy móc, thiết bị và các ngành công nghiệp chế biến.

Tuy nhiên, sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm hàng cũng cho thấy dư địa cải thiện còn lớn. Đối với các ngành sử dụng nhiều lao động, cần tiếp tục nâng năng suất, cải tiến sản phẩm và mở rộng thị trường. Với nông, thủy sản, yêu cầu nâng giá trị, chất lượng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường tiếp tục là vấn đề then chốt.

Ở chiều nhập khẩu, việc tư liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế đang tăng. Đây là cơ hội để mở rộng sản xuất, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước để tăng mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng và gia tăng giá trị nội địa.

Với đà tăng hiện nay, năm 2026 nhiều khả năng sẽ ghi nhận một cột mốc mới về quy mô xuất nhập khẩu. Thách thức tiếp theo không chỉ là đạt con số lớn hơn, mà là bảo đảm sự tăng trưởng có chất lượng, nâng giá trị gia tăng trong nước và tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động thương mại trong những năm tiếp theo.

Cùng chuyên mục:

Xem thêm