Mùa vụ bội thu nhưng thị trường đối mặt nhiều sức ép
Chỉ còn khoảng 2-3 tuần nữa, các vùng trồng sầu riêng trên cả nước sẽ bước vào cao điểm thu hoạch. Tuy nhiên, thay vì kỳ vọng vào một mùa vụ thắng lớn, nhiều nhà vườn lại đang thấp thỏm khi giá thu mua có xu hướng giảm ngay trước vụ chính.
Hiện sầu riêng Dona loại A được thương lái thu mua ở mức 60.000-65.000 đồng/kg, trong khi loại B dao động 40.000-45.000 đồng/kg. So với tháng trước, giá đã giảm khoảng 3.000-5.000 đồng/kg và thấp hơn từ 10.000-20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái, tùy chủng loại và chất lượng.
Trong khi giá giảm, sản lượng lại được dự báo tăng mạnh. Đắk Lắk - địa phương có diện tích trồng sầu riêng lớn nhất cả nước - hiện sở hữu hơn 40.000 ha. Năm 2025, sản lượng đạt khoảng 400.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 1,1 tỷ USD. Sang năm 2026, sản lượng được dự báo tăng lên khoảng 500.000 tấn nhờ diện tích trồng tiếp tục mở rộng.
Tuy nhiên, sự gia tăng nguồn cung lại diễn ra đúng thời điểm thị trường xuất khẩu chủ lực là Trung Quốc áp dụng quy định kiểm soát nghiêm ngặt hơn đối với sầu riêng nhập khẩu từ ngày 1/6. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa kịp thích ứng nên buộc phải tạm dừng hoặc hạn chế xuất khẩu.
Hệ quả đã nhanh chóng phản ánh vào số liệu thương mại. Tháng 6, kim ngạch xuất khẩu rau quả chỉ đạt khoảng 777 triệu USD, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước, chấm dứt chuỗi 5 tháng tăng trưởng liên tiếp.
Theo lãnh đạo Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT), nhiều doanh nghiệp hiện thận trọng hơn trong việc thu mua sầu riêng. Trong khi đó, Thái Lan cũng bước vào vụ thu hoạch với sản lượng lớn, khiến sức ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng gay gắt.
Chỉ sau vài năm được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, sầu riêng Việt Nam đã tạo nên bước nhảy vọt khi kim ngạch từ khoảng 400 triệu USD tăng lên hơn 3 tỷ USD, trở thành mặt hàng trái cây xuất khẩu có giá trị lớn nhất cả nước, đóng góp gần một nửa kim ngạch toàn ngành rau quả. Tuy nhiên, ngành hàng này hiện đang đứng trước giai đoạn thử thách lớn nhất kể từ khi bùng nổ xuất khẩu.

Hai "điểm nghẽn" vẫn đang trói chặt chuỗi xuất khẩu
Theo các chuyên gia, hiện nay có hai nút thắt lớn đang ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xuất khẩu sầu riêng là kiểm nghiệm chất lượng và cấp mã số vùng trồng.
Phòng kiểm nghiệm trở thành "cửa ải" bắt buộc
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu kiểm soát chất lượng ngay tại vùng trồng và cơ sở đóng gói thì hiện nay, phòng kiểm nghiệm đã trở thành khâu quyết định trước khi mỗi container được phép xuất khẩu.
Nguyên nhân xuất phát từ vụ việc năm 2024 khi phía Trung Quốc phát hiện một số lô sầu riêng Việt Nam có dư lượng Cadimi (Cd) vượt ngưỡng và tồn dư chất cấm Auramine O (vàng O). Sau đó, Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) áp dụng cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt hơn.
Theo quy định mới, gần như 100% lô sầu riêng xuất khẩu phải có kết quả phân tích Cadimi và Auramine O từ các phòng thử nghiệm được GACC công nhận. Nếu không đạt yêu cầu hoặc không có kết quả kiểm nghiệm, lô hàng sẽ không được cấp chứng thư để thông quan.
Quy định này đã làm thay đổi hoàn toàn quy trình xuất khẩu, biến phòng kiểm nghiệm thành mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi giá trị.
Thực tế năm 2025, hàng nghìn container sầu riêng từng ùn ứ tại cửa khẩu do chờ kết quả xét nghiệm, khiến nhiều doanh nghiệp phải tạm ngừng thu mua, giá sầu riêng lao dốc và người trồng chịu thiệt hại nặng nề.
Mã số vùng trồng vẫn là bài toán khó
Bên cạnh kiểm nghiệm, việc cấp mã số vùng trồng cũng đang gặp nhiều vướng mắc.
Theo ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, hai tiêu chí hiện hành là diện tích tối thiểu 10 ha và yêu cầu chuyên canh một loại cây đang gây khó khăn cho nhiều địa phương.
Tại Tây Nguyên, mặc dù quy mô sản xuất tương đối lớn nhưng để đạt diện tích tối thiểu 10 ha, nhiều hộ dân phải liên kết với nhau. Tuy nhiên, việc tập hợp từ 5-7 hộ để hình thành một vùng sản xuất thống nhất không hề đơn giản.
Trong khi đó, mô hình sản xuất phổ biến tại khu vực này là xen canh cà phê, hồ tiêu và sầu riêng nhằm tối ưu hiệu quả kinh tế. Vì vậy, quy định chỉ cấp mã số cho vùng chuyên canh khiến không ít nhà vườn chưa đủ điều kiện tham gia xuất khẩu chính ngạch.

Mạng lưới kiểm nghiệm phân bổ chưa hợp lý
Theo danh sách 37 phòng kiểm nghiệm được GACC công nhận mà Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa công bố, việc phân bổ giữa các vùng sản xuất còn thiếu cân đối.
Khu vực Đồng bằng sông Hồng có 8 cơ sở, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chỉ có 4 cơ sở, Đông Nam Bộ có 15 cơ sở, chủ yếu tập trung tại TP. Hồ Chí Minh, còn Đồng bằng sông Cửu Long có 10 cơ sở.
Trong khi đó, nhiều địa phương có diện tích sầu riêng lớn như Đắk Lắk, Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), Gia Lai, Tiền Giang (nay thuộc Đồng Tháp) hay Bến Tre (nay thuộc Vĩnh Long) lại có rất ít phòng kiểm nghiệm.
Điều này buộc nhiều doanh nghiệp phải vận chuyển mẫu từ vùng nguyên liệu về TP. Hồ Chí Minh hoặc Cần Thơ để xét nghiệm, làm tăng chi phí, kéo dài thời gian trả kết quả và ảnh hưởng đến tiến độ giao hàng.
Ông Nguyễn Văn Mười cho rằng, xét về số lượng, Việt Nam không thiếu phòng kiểm nghiệm, thậm chí có thể nhiều hơn Thái Lan. Tuy nhiên, sự phân bổ chưa hợp lý khiến nhiều cơ sở thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải trong mùa cao điểm, doanh nghiệp phải chờ nhiều ngày mới đến lượt lấy mẫu và nhận kết quả.
Cần tháo gỡ từ gốc để giữ vững thị trường xuất khẩu
Để bảo đảm ngành sầu riêng phát triển bền vững, các chuyên gia cho rằng cần sớm xây dựng mạng lưới phòng kiểm nghiệm vệ tinh ngay tại các vùng nguyên liệu trọng điểm nhằm giảm áp lực cho các trung tâm lớn.
Song song đó, cần thiết lập cơ chế giám sát định kỳ đối với đất, nguồn nước và vật tư nông nghiệp; đẩy mạnh số hóa toàn bộ dữ liệu từ mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói đến kết quả kiểm nghiệm, đồng thời nâng cao vai trò của các hợp tác xã trong việc kiểm soát chất lượng ngay từ cấp hộ sản xuất.
Khi hệ thống quản lý được vận hành đồng bộ, chất lượng sản phẩm sẽ được kiểm soát ngay từ gốc, giảm đáng kể áp lực cho khâu kiểm nghiệm, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xuất khẩu và nâng cao sức cạnh tranh của sầu riêng Việt Nam trên thị trường quốc tế.
