Khuyến công tạo lực đẩy cho sản xuất nông thôn
Việt Nam có hàng nghìn làng nghề truyền thống cùng hàng chục nghìn cơ sở công nghiệp nông thôn hoạt động trong nhiều lĩnh vực như chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, cơ khí, dệt may, gốm sứ...
Không chỉ tạo sinh kế cho một bộ phận lớn lao động, khu vực này còn góp phần duy trì nghề truyền thống, gìn giữ bản sắc văn hóa và khai thác lợi thế nguyên liệu, lao động tại chỗ.
Những năm gần đây, cùng với sự hỗ trợ của các chương trình khuyến công, nhiều doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đã chủ động đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Một ví dụ điển hình là Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất gạch không nung” tại Công ty TNHH Sản xuất gạch không nung Vĩnh Long Phước, được triển khai từ Chương trình khuyến công quốc gia năm 2025.
Với tổng kinh phí 660 triệu đồng, trong đó nguồn khuyến công quốc gia hỗ trợ 300 triệu đồng, doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất gạch không nung bán tự động gồm máy ép, máy trộn, băng tải và hệ thống thiết bị đồng bộ.
Việc ứng dụng công nghệ mới giúp doanh nghiệp nâng năng suất, giảm chi phí, cải thiện độ đồng đều của sản phẩm. Đáng chú ý, điều kiện làm việc của người lao động được cải thiện, đồng thời góp phần giảm nguy cơ xảy ra tai nạn trong quá trình sản xuất.
Theo bà Trần Nhụy Lan Thảo, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất gạch không nung Vĩnh Long Phước, sự hỗ trợ từ chương trình khuyến công đã tạo thêm động lực để đơn vị mạnh dạn đầu tư dây chuyền máy móc hiện đại, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh.
Từ một khoản hỗ trợ có trọng tâm, doanh nghiệp có thêm điều kiện huy động nguồn lực đối ứng, đổi mới thiết bị và tổ chức lại sản xuất. Đây cũng là cách chính sách khuyến công tạo ra tác động lan tỏa thay vì chỉ dừng ở hỗ trợ trực tiếp.
Hơn 1.400 sản phẩm công nghiệp nông thôn được tôn vinh
Câu chuyện tại Vĩnh Long Phước chỉ là một trong nhiều mô hình cho thấy hiệu quả của chính sách khuyến công đối với khu vực sản xuất nông thôn.
Giai đoạn 2021-2025, nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn do đại dịch Covid-19, đứt gãy chuỗi cung ứng và chi phí đầu vào gia tăng. Trong bối cảnh đó, Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 1881/QĐ-TTg ngày 20/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã góp phần hỗ trợ nhiều cơ sở duy trì hoạt động, từng bước phục hồi và nâng cao năng lực sản xuất.
Theo số liệu trong bài gốc, tổng kinh phí khuyến công cả nước được phê duyệt đạt 1.436 tỷ đồng, trong đó kinh phí khuyến công quốc gia chiếm 36,6%, phần còn lại đến từ nguồn lực địa phương.
Đáng chú ý, tổng vốn đối ứng của doanh nghiệp và các cơ sở công nghiệp nông thôn đạt gần 1.525 tỷ đồng. Con số này cho thấy khả năng huy động nguồn lực xã hội đáng kể từ chính sách hỗ trợ.
Trong giai đoạn này, chương trình đã hỗ trợ 883 cơ sở ứng dụng máy móc, chuyển giao công nghệ; xây dựng 52 mô hình trình diễn kỹ thuật, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Hoạt động phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cũng được đẩy mạnh với hơn 1.400 sản phẩm được tôn vinh, qua đó mở rộng cơ hội quảng bá, kết nối thị trường và nâng cao nhận diện thương hiệu.
Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất, hơn 1.500 lượt cơ sở được đào tạo, tư vấn về quản trị, ISO, Kaizen, sản xuất sạch hơn và chuyển đổi số.
Những kết quả này cho thấy khuyến công đang từng bước chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang tác động rộng hơn tới công nghệ, quản trị, năng suất và khả năng thích ứng dài hạn của doanh nghiệp.
“Bà đỡ” cho sản phẩm công nghiệp nông thôn vươn xa
Từ thực tiễn triển khai, khuyến công đã phát huy vai trò như một “bà đỡ”, hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tiếp cận khoa học - công nghệ, đổi mới thiết bị, cải tiến quy trình và mở rộng sản xuất.
Ý nghĩa của chương trình không chỉ nằm ở số tiền hỗ trợ. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, một nguồn lực được bố trí đúng thời điểm có thể trở thành cú hích để chủ cơ sở vượt qua tâm lý e ngại đầu tư, mạnh dạn đưa công nghệ mới vào sản xuất.
Khi thiết bị được hiện đại hóa, năng suất có thể được cải thiện; chất lượng sản phẩm ổn định hơn; điều kiện lao động tốt hơn và khả năng cạnh tranh cũng được nâng lên.
Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực, công nghiệp nông thôn vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn khiến tiềm năng chưa được khai thác tương xứng.
Những “nút thắt” về vốn, mặt bằng và thị trường
Phần lớn cơ sở công nghiệp nông thôn hiện có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính hạn chế. Đây là rào cản lớn đối với quá trình mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và xây dựng thương hiệu.
Mặt bằng sản xuất cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Nhiều cơ sở vẫn hoạt động xen kẽ trong khu dân cư, quy mô nhỏ lẻ, thiếu không gian mở rộng nhà xưởng và gặp khó khăn trong đầu tư hệ thống xử lý môi trường.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, áp lực cạnh tranh tiếp tục gia tăng. Các sản phẩm công nghiệp nông thôn không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn phải đối mặt với hàng hóa sản xuất quy mô lớn và hàng nhập khẩu.
Dù có lợi thế về kỹ thuật thủ công, giá trị văn hóa và bản sắc địa phương, nhiều sản phẩm vẫn chưa tạo được dấu ấn rõ nét do hạn chế về thiết kế, bao bì, nhận diện thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường.
Không ít doanh nghiệp còn phụ thuộc vào kênh bán hàng truyền thống, chưa khai thác hiệu quả thương mại điện tử và các nền tảng số. Trong khi đó, hoạt động xây dựng thương hiệu ở nhiều nơi còn manh mún, thiếu chiến lược dài hạn.
Nguồn nhân lực cũng là một thách thức. Lao động trẻ ngày càng ít gắn bó với nghề truyền thống khi thu nhập chưa ổn định và điều kiện làm việc còn hạn chế. Nếu không có giải pháp đào tạo, cải thiện môi trường lao động và tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp, nguy cơ thiếu hụt nhân lực có thể trở thành lực cản đáng kể.
Khuyến công cần vượt ra ngoài hỗ trợ máy móc
Bản thân hoạt động khuyến công cũng còn những hạn chế cần khắc phục. Nguồn lực hỗ trợ còn mỏng so với nhu cầu; đội ngũ cán bộ khuyến công tại một số nơi còn thiếu và chủ yếu kiêm nhiệm; công tác tuyên truyền chưa tiếp cận sâu rộng tới các cơ sở ở vùng xa.
Từ thực tế này, theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, trong giai đoạn 2026-2030, hoạt động khuyến công không chỉ dừng ở hỗ trợ thiết bị hay xây dựng mô hình.
Yêu cầu lớn hơn là góp phần thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn, tạo sinh kế bền vững cho người dân và đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo định hướng nêu trong bài gốc, năm 2026, hoạt động khuyến công sẽ được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, bám sát lợi thế của từng vùng và đồng bộ hơn với các chính sách về đất đai, tín dụng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Các định hướng về sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững và chuyển đổi số tiếp tục được thúc đẩy, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
Cùng với đó là yêu cầu tăng cường bình chọn, hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu sau công nhận; thúc đẩy đầu tư vào khu vực nông thôn; khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản trị, nâng cao năng suất và chất lượng.
Việc tận dụng cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do cũng được kỳ vọng mở rộng dư địa thị trường cho những sản phẩm đủ năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.
Từ sản xuất nhỏ lẻ đến tư duy kinh doanh chuyên nghiệp
Chính sách hỗ trợ của Nhà nước là cần thiết, nhưng không thể thay thế vai trò chủ động của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh mới, tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún cần từng bước được thay thế bằng mô hình chuyên nghiệp hơn, có chiến lược dài hạn và gắn chặt với nhu cầu thị trường.
Doanh nghiệp không chỉ cần làm ra sản phẩm tốt. Một yêu cầu ngày càng quan trọng là phải xây dựng được câu chuyện cho sản phẩm, trong đó giá trị văn hóa, lịch sử nghề, kỹ thuật thủ công và bản sắc địa phương trở thành một phần của giá trị thương hiệu.
Đây chính là lợi thế riêng của công nghiệp nông thôn Việt Nam. Một sản phẩm thủ công sẽ khó cạnh tranh bằng quy mô với sản xuất công nghiệp hàng loạt, nhưng có thể tạo khác biệt bằng chất lượng, tính độc đáo và chiều sâu văn hóa.
Khi giá trị truyền thống được kết hợp với công nghệ hiện đại, thiết kế mới, quản trị chuyên nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường số, sản phẩm công nghiệp nông thôn Việt Nam có thêm cơ hội chinh phục những thị trường có yêu cầu cao.
Biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng bền vững
Việt Nam có lợi thế đặc biệt với hệ thống làng nghề phong phú, truyền thống lâu đời và đội ngũ nghệ nhân giàu kinh nghiệm. Đây là nguồn tài sản kinh tế và văn hóa có giá trị lớn nếu được khai thác đúng hướng.
Khi những điểm nghẽn về cơ chế, vốn, công nghệ, mặt bằng sản xuất, nhân lực và thương hiệu từng bước được tháo gỡ, tiềm năng của công nghiệp nông thôn sẽ không chỉ dừng ở việc được “khơi dậy”, mà có thể chuyển hóa thành năng lực tăng trưởng thực chất.
Để đạt mục tiêu đó, cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, hiệp hội ngành nghề, địa phương và chính các doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn.
Một chính sách đúng có thể tạo cú hích. Một doanh nghiệp dám đổi mới có thể hình thành mô hình lan tỏa. Và khi nguồn lực công được kết nối hiệu quả với nguồn lực xã hội, công nghiệp nông thôn có cơ sở để phát triển theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, đồng thời tạo thêm sinh kế và giá trị lâu dài cho khu vực nông thôn Việt Nam.
