Số hóa từ sản xuất đến thị trường
Chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy nông nghiệp Hà Nội chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang sản xuất dựa trên dữ liệu, công nghệ và khả năng kết nối.
Không chỉ hỗ trợ nâng cao hiệu quả sản xuất, các nền tảng số còn tạo ra phương thức quản lý mới trong kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm sản phẩm được sản xuất ở đâu, theo quy trình nào và chất lượng được kiểm soát ra sao, mã QR, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc trở thành những công cụ quan trọng kết nối người sản xuất với thị trường.
Với vai trò cơ quan chủ trì, Sở Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) Hà Nội đã triển khai đồng bộ hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản từ năm 2018, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý ngành.
Theo Sở NNMT Hà Nội, Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản và thực phẩm Hà Nội tại check.hanoi.gov.vn tiếp tục được duy trì, mở rộng. Đến nay, hệ thống đã hướng dẫn, cấp tài khoản cho hơn 3.300 cơ sở sản xuất, kinh doanh, đồng thời quản lý dữ liệu của hơn 12.300 sản phẩm được cấp mã QR truy xuất nguồn gốc.
Những con số này cho thấy truy xuất nguồn gốc đang dần trở thành một phần trong quá trình quản lý và lưu thông nông sản của Thủ đô, thay vì chỉ là công cụ cung cấp thông tin trên bao bì.
Hướng tới liên thông dữ liệu truy xuất nguồn gốc
Để chuẩn bị kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Sở NNMT Hà Nội đã đăng ký danh mục những sản phẩm ưu tiên triển khai.
Các nhóm sản phẩm được lựa chọn gồm thịt lợn, thịt gà, rau và trà hoa vàng vùng Sóc Sơn.
Đáng chú ý, hệ thống truy xuất nguồn gốc của Hà Nội được thiết kế theo hướng mở, sẵn sàng kết nối với hệ thống của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông qua các giao diện lập trình ứng dụng (API).
Thành phố cũng đề xuất liên thông dữ liệu với hệ thống do Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội đang xây dựng.
Việc kết nối các hệ thống có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất, hạn chế tình trạng thông tin phân tán, đồng thời tạo thuận lợi cho quản lý và khai thác dữ liệu trong toàn bộ chuỗi sản xuất, chế biến, phân phối nông sản.
Gần 27.000 hồ sơ tự công bố sản phẩm được số hóa
Chuyển đổi số trong nông nghiệp Hà Nội không chỉ được triển khai ở truy xuất nguồn gốc.
Sở NNMT tiếp tục vận hành Hệ thống phần mềm tự công bố sản phẩm. Đến nay, hệ thống đã tiếp nhận, công khai 26.867 bộ hồ sơ cùng các văn bản thay đổi thông tin tự công bố sản phẩm của các cơ sở.
Riêng năm 2026, hệ thống tiếp nhận thêm 2.979 hồ sơ.
Trong khi đó, Hệ thống trực tuyến kiểm tra, đánh giá kiến thức an toàn thực phẩm đã ghi nhận 13.069 lượt người tham gia, trong đó 12.233 người đạt yêu cầu, tương đương 93,6%.
Các nền tảng này góp phần chuyển một phần hoạt động quản lý, đào tạo và cung cấp thông tin từ phương thức truyền thống lên môi trường số, tạo thuận lợi hơn cho cả cơ quan quản lý và cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Theo Phó Giám đốc Sở NNMT Hà Nội Tạ Văn Tường, hệ thống truy xuất nguồn gốc giúp số hóa quá trình sản xuất, chế biến và lưu thông nông sản, qua đó minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Thông qua mã QR, người tiêu dùng có thể tra cứu nguồn gốc, quy trình sản xuất và những thông tin liên quan trước khi quyết định lựa chọn sản phẩm.
Đây cũng là một trong những thay đổi đáng chú ý mà chuyển đổi số mang lại: người tiêu dùng có thêm công cụ kiểm chứng thông tin, trong khi cơ sở sản xuất có thêm phương thức để chứng minh chất lượng và xây dựng niềm tin đối với sản phẩm.
Đưa quản lý an toàn thực phẩm lên môi trường số
Song song với truy xuất nguồn gốc, Sở NNMT Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh tập huấn trực tuyến về an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Hoạt động này hướng tới nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể trong toàn bộ chuỗi, từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến lưu thông sản phẩm.
Thời gian tới, ngành nông nghiệp Hà Nội sẽ tiếp tục hoàn thiện các hệ thống theo hướng hiện đại, tích hợp thêm dịch vụ công trực tuyến, thường xuyên cập nhật dữ liệu và tăng cường bảo mật thông tin.
Truy xuất nguồn gốc điện tử cũng sẽ từng bước được triển khai đối với các nhóm nông sản, tạo nền tảng cho quá trình xây dựng nông nghiệp số.
Khi thông tin về sản xuất, chất lượng, an toàn thực phẩm và lưu thông sản phẩm được số hóa, dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý nhà nước mà còn có thể trở thành nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân tổ chức sản xuất hiệu quả hơn.
Từ số hóa đến nông nghiệp xanh, thông minh
Chuyển đổi số không phải đích đến cuối cùng. Xa hơn, đây là công cụ để Hà Nội tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng tạo giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo định hướng này, Sở NNMT Hà Nội và Học viện Nông nghiệp Việt Nam đang xây dựng kế hoạch phối hợp phát triển nông nghiệp Thủ đô giai đoạn 2026-2030.
Mục tiêu đặt ra là phát triển nông nghiệp, nông thôn Hà Nội theo hướng bền vững, giá trị gia tăng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu; từng bước hình thành nền nông nghiệp đô thị xanh, sinh thái, công nghệ cao và thông minh.
Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là tham mưu xây dựng Đề án tái cấu trúc ngành nông nghiệp Thủ đô theo định hướng phát triển nông nghiệp đô thị xanh, sinh thái, công nghệ cao, bền vững với tầm nhìn 100 năm.
Định hướng dài hạn này đặt ra yêu cầu không chỉ giải quyết những vấn đề của sản xuất trước mắt mà còn tính tới không gian phát triển nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa nhanh của Hà Nội.
IoT, nhà kính và trang trại thẳng đứng
Trong nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, Sở NNMT Hà Nội và Học viện Nông nghiệp Việt Nam dự kiến triển khai nhiều mô hình mới.
Trong đó có ứng dụng Internet vạn vật (IoT), nhà kính hiện đại và trang trại thẳng đứng; xây dựng cơ sở dữ liệu, nền tảng số phục vụ quản lý sản xuất nông nghiệp đô thị.
Việc chuyển giao các giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất của Hà Nội cũng được chú trọng.
Đây là những hướng đi phù hợp với đặc điểm của một đô thị lớn, nơi quỹ đất nông nghiệp ngày càng chịu sức ép nhưng nhu cầu đối với thực phẩm chất lượng, an toàn và có khả năng truy xuất nguồn gốc ngày càng tăng.
Thay vì chỉ mở rộng diện tích, công nghệ cho phép ngành nông nghiệp hướng tới nâng cao giá trị tạo ra trên một đơn vị đất, tiết kiệm nước, nhân lực và các nguồn lực đầu vào.
Công nghệ phải đi được đến đồng ruộng
Một số nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn 2027-2030 cũng đã được xác định, như triển khai hệ thống quan trắc môi trường tự động trong nuôi trồng thủy sản; lai tạo, tuyển chọn đàn cá bố mẹ; xây dựng mô hình trình diễn từ các đề tài nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật canh tác VietGAP, hữu cơ.
Công nghệ bảo quản sau thu hoạch cũng được chú trọng nhằm giảm tổn thất, kéo dài thời gian bảo quản và nâng cao giá trị nông sản trước khi đưa ra thị trường.
Điểm quan trọng của quá trình này là đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm, viện, trường vào thực tiễn sản xuất.
Bởi một công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi người nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có thể tiếp cận, vận hành và chuyển hóa thành năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế.
Hướng tới trên 70% sản phẩm ứng dụng công nghệ cao
Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt trên 70% tổng sản phẩm nông nghiệp.
Để đạt được mục tiêu này, chuyển đổi số cần được triển khai song hành với phát triển hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu, nghiên cứu khoa học, chuyển giao kỹ thuật và tổ chức lại sản xuất.
Từ hơn 12.300 sản phẩm đã được cấp mã QR truy xuất nguồn gốc đến những định hướng ứng dụng IoT, nhà kính hiện đại, trang trại thẳng đứng và quan trắc tự động, một hệ sinh thái nông nghiệp dựa nhiều hơn vào công nghệ và dữ liệu đang từng bước được hình thành.
Với Hà Nội, giá trị của chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc thay hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử hay đưa thêm một mã QR lên sản phẩm.
Ý nghĩa lớn hơn là tạo khả năng kết nối xuyên suốt từ quản lý - sản xuất - kiểm soát chất lượng - truy xuất nguồn gốc - thị trường, qua đó xây dựng một nền nông nghiệp minh bạch và hiệu quả hơn.
Khi dữ liệu trở thành một nguồn lực sản xuất, công nghệ được đưa tới đồng ruộng và các kết quả nghiên cứu được chuyển hóa thành mô hình thực tế, Hà Nội sẽ có thêm nền tảng để tiến tới nền nông nghiệp đô thị xanh, sinh thái, công nghệ cao và thông minh.
